Nghiên cứu kỹ để thực hiện đúng quy định

TQĐT - Với ba mục đích: giúp các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và từng cá nhân tự soi, tự sửa lại mình, từ đó đề ra chủ trương, giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực hiện nhiệm vụ; làm căn cứ để thực hiện các nội dung về công tác cán bộ; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quy định số 21-QĐi/TU ngày 26-11-2018 về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Quy định 21 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã cụ thể hóa Quy định 132 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn 16 của Ban Tổ chức Trung ương. Trên cơ sở Quy định 21 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã có Hướng dẫn số 02-HD/BTCTU.

Việc thực hiện Quy định 21 phải được tiến hành nghiêm túc, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên để đảm bảo các yếu tố khách quan, toàn diện, thực chất. Trong kiểm điểm phải khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; nhận diện, xác định rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thực hiện đánh giá liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm cụ thể, có sự so sánh giữa các vị trí tương đương và công khai kết quả; gắn đánh giá, xếp loại chất lượng cá nhân với tập thể và với kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Để đạt được các mục đích và yêu cầu nói trên, việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải tuân thủ 5 nguyên tắc: (1). Đúng chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (2). Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; đoàn kết, thống nhất; trung thực, khách quan, toàn diện; công bằng, công khai, minh bạch; đúng thẩm quyền, trách nhiệm; (3). Bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; (4). Lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống làm gốc; kết quả, hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu trong đánh giá, xếp loại; (5). Gắn trách nhiệm cá nhân với tập thể; người đứng đầu, cá nhân lãnh đạo, quản lý được phân công phụ trách lĩnh vực, địa bàn với kết quả hoạt động, hiệu quả công tác của địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại phải dựa trên 5 căn cứ: (1). Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tập thể; nghĩa vụ, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cá nhân; (2). Cơ chế hoạt động, quy chế làm việc của tập thể; các quy định về việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, việc tu dưỡng, rèn luyện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa giao tiếp, tác phong, lề lối làm việc của cá nhân; (3). Chương trình, kế hoạch công tác, các chỉ tiêu, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, phê duyệt hàng năm; (4). Cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hàng năm của cá nhân; (5). Môi trường, điều kiện hoạt động, công tác và đặc thù giới.

Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải xác định rõ đối tượng, nơi kiểm điểm, nội dung, các bước tiến hành và việc đánh giá, xếp loại thực hiện ngay sau khi kết thúc kiểm điểm. 

Việc đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên, tập thể lãnh đạo, quản lý bao gồm 5 nội dung cốt yếu được nhận thức và thực hiện nhất quán đó là: Đối tượng; khung tiêu chí đánh giá; tiêu chuẩn các mức chất lượng; trách nhiệm, thẩm quyền; cách thức thực hiện. Có 4 mức chất lượng: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ và không hoàn thành nhiệm vụ. Có con số cần chú ý là 20%. Cụ thể: số lượng tổ chức đảng được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”  không vượt quá 20% số tổ chức đảng cùng cấp trực thuộc được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”. Tương tự như thế, số lượng đảng viên được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá 20% số đảng viên được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trong từng tổ chức cơ sở đảng và số lượng tập thể lãnh đạo, quản lý được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá 20% số được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” theo từng đối tượng tập thể lãnh đạo, quản lý trực thuộc cấp tỉnh hoặc cấp huyện. Mức xếp loại chất lượng của tập thể lãnh đạo, quản lý không được cao hơn mức xếp loại của tổ chức, cơ quan, đơn vị. 

Riêng việc đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thực hiện theo Quy chế số 10-QC/TU, ngày 28-8-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; Quy định số 17-QĐi/TU ngày 28-8-2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và “Quy chế đánh giá cán bộ”, “Bộ tiêu chí đánh giá cán bộ” của các tổ chức, cơ quan, đơn vị theo phân cấp. Mức xếp loại của người đứng đầu không được cao hơn mức xếp loại chất lượng của tập thể lãnh đạo, quản lý và tổ chức, cơ quan, đơn vị do mình là người đứng đầu.

Trong quá trình triển khai thực hiện Quy định 21 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, có một số ý kiến đề nghị làm rõ hơn về các chủ thể có liên quan tham gia đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Về việc này Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã có hướng dẫn tại văn bản 2135 ngày 02-12-2018.

Để đạt được mục đích, yêu cầu và đúng quy định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên phải nghiên cứu rất kỹ và bám sát sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan chuyên môn để thực hiện.

Xuân Tùng

Tin cùng chuyên mục