Duyên thầm nón lá

TQĐT - Không ai có thể trả lời được câu hỏi, nón lá của người Tày Tân An (Chiêm Hóa) có từ bao giờ? Chỉ biết rằng, trải qua bao thăng trầm của thời gian, nón lá cũng giống như tiếng hát Then, đàn Tính đã trở thành một phần cuộc sống của người dân nơi đây.

Kỳ công làm nghề

Vào khoảng tháng 2, 3 hàng năm, những người làm nón lại lên rừng lấy tre giang, tre hóp, tre gai, lá cọ về chuẩn bị vật liệu cho một mùa làm nón. Bà Dương Thị Hương, thôn Tân Hội, người làm nón lá lâu năm cho biết, học làm nón không khó nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo và kiên trì của người thợ. Bởi để có một chiếc nón lá hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn như: Vót nan làm vành, tạo khuôn, đan nón và quá trình làm hoàn toàn thủ công.

Để làm nên một khung nón là sự kết hợp của tre giang, tre gai và cây hóp. Tre giang lấy về được cạo hết tinh, phơi trên gác bếp khoảng 10 ngày sau đó mới được chẻ, vót và đan thành những miếng có mắt hình lục giác nhỏ, đều. Cây tre gai khi vót xong sẽ được phơi khô, sau đó được nhuộm với củ nâu, nhọ nồi thành màu đen có nhiệm vụ tạo hình, cố định các mắt lục giác và tạo thành cốt nón. 


Người dân xã Tân An (Chiêm Hóa) làm nón lá.

Kỳ công là thế nhưng để quyết định chất lượng của chiếc nón lá lại nằm ở công đoạn xử lý lá cọ. Bà Hương vừa chặt lá cọ vừa cho biết, lá cọ dùng để làm nón là lá bánh tẻ, dài khoảng nửa mét và chưa chuyển sang màu xanh đậm. Nếu chọn lá già quá, thếp lá sẽ không được thanh, ảnh hưởng đến chất lượng cũng như vẻ bề ngoài của nón. Lá cọ khi lấy về được hơ lửa và phơi khô, sau đó đem ngâm nước 1 ngày để làm mềm lá. Hàng tháng, mỗi cây cọ chỉ ra 1 lá nên việc lấy lá cũng cần tính toán cụ thể và chia làm nhiều lần mới đủ số lượng lá cần làm. Khi người thợ đảm bảo tất cả về vật liệu, kỹ thuật sẽ cho ra một chiếc nón bền, ít ngấm nước, không bị mốc, lại bóng đẹp. 

Thấy tôi có vẻ “hoang mang” khi nghe giới thiệu sơ lược về các công đoạn làm nón lá, bà Hương cười bảo: “Nghe thì thấy rắc rối vậy thôi, chứ thật ra chỉ cần chú ý, cẩn thận một chút là có thể học làm nón lá được rồi”. Xong xuôi, bà lấy vật liệu làm nón đã được chuẩn bị từ trước đó để hướng dẫn tôi cách làm. Bà cũng bật mí cho tôi thêm một kinh nghiệm để có thể làm ra một chiếc nón đẹp, đó là không nên “lợp nón” vào mùa hè, vì sau khi lợp lá cọ sẽ bị co, hở, ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nón. 

Ngoài việc dùng để che mưa, che nắng, nón lá còn đi vào cuộc sống hàng ngày bởi sự dung dị gần gũi, từ đó trở thành biểu tượng cho tình yêu nam nữ, là vật trao duyên của người con gái với người con trai mình đem lòng thương nhớ và  mong muốn được chăm sóc trọn đời. Ngoài ra, con gái đan nón lá tặng ông bà, cha mẹ còn thể hiện sự hiếu thảo, quan tâm đối với những người có công sinh thành, nuôi dưỡng.

Giữ gìn giá trị văn hóa


Những lá cọ bánh tẻ được lựa chọn làm nón lá.

Nón lá của người Tày xã Tân An làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu của người dân trong vùng, trường học, các khu du lịch và tham gia triển lãm giới thiệu những nét đặc sắc của các dân tộc tại địa phương. Anh Khổng Văn Vinh, Giám đốc Trung tâm Văn hóa, Thông tin - Thể thao huyện Lâm Bình nói, nhằm quảng bá những nét đặc sắc riêng của từng dân tộc, anh có đặt 30 chiếc nón lá ở xã Tân An để trưng bày tại nhà văn hóa huyện và phục vụ khách du lịch sử dụng trong thời gian lưu lại Lâm Bình. Nón lá của xã được người dân làm thủ công, nguyên liệu tự nhiên, tỉ mỉ, bền, đẹp lại tiện dụng nên đã nhận được sự yêu thích của nhiều du khách, nhất là du khách nước ngoài.

Tuy nhiên, ngoài thời gian chuẩn bị vật liệu, để hoàn thiện 1 chiếc nón kể cả những người thợ lâu năm cũng mất gần 2 ngày, với giá bán hiện tại khoảng 50 - 70 nghìn đồng/chiếc tùy vào kích cỡ, trừ chi phí mỗi sản phẩm chỉ thu lãi khoảng 30 nghìn đồng. Vì vậy, hiện nay nhiều người trong xã không còn tiếp tục với nghề làm nón lá. 

Bà Ma Thị Lống, thôn Tân Hợp là người có thâm niên làm nón lâu nhất xã chia sẻ, ngày trước ở xã có rất nhiều người biết làm nón, ngay cả những người đàn ông khi cầm đến cây kim để chằm nón cũng thoăn thoắt không kém gì đàn bà. Gia đình bà cũng nhờ nghề làm nón mà có cuộc sống ổn định. Nhưng nhiều năm trở lại đây, thị trường xuất hiện những loại mũ, nón hiện đại, nên lượng nón bán ra giảm đáng kể. Do vậy, bà còn duy trì công việc vì tình yêu dành cho nghề và mong muốn giữ lại nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. Bà Lống cũng hy vọng một ngày nào đó, nghề làm nón lá của xã sẽ được hồi sinh.

Để quảng bá sản phẩm nón lá của địa phương, xã Tân An cũng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm đưa nón lá đến gần hơn với người tiêu dùng. Theo bà Bùi Thị Tâm, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, vừa qua tại Hội chợ đêm trưng bày và bán các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm du lịch, ẩm thực đặc trưng của huyện lần thứ nhất năm 2018, xã đã trưng bày và giới thiệu hơn 30 chiếc nón lá. Tại đây, đã có rất nhiều du khách quan tâm và ưa thích chiếc nón lá. Có du khách ở ngoài tỉnh đã mua 3 - 4 cái về làm quà. Chỉ trong một buổi tối, hơn 30 chiếc nón đã bán hết. Đây chính là tin vui với những người làm nón, vì chiếc nón lá vẫn được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.

Chị Trần Thị Thanh Tâm, Trưởng phòng Văn hóa, Thông tin huyện Chiêm Hóa cho biết, trước thực trạng nghề làm nón lá của người Tày xã Tân An có nguy cơ mai một, thực hiện chương trình hành động của Huyện ủy về phát triển du lịch, Phòng đã xây dựng các phương án bảo tồn nghề làm nón lá của người Tày xã Tân An. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phối hợp với những người biết làm nón lá tổ chức truyền dạy cho thế hệ trẻ; xây dựng kế hoạch đưa việc trải nghiệm làm nón lá vào các tour, tuyến du lịch, mở ra hướng làm kinh tế mới cho người dân nơi đây. 

Chia tay bà Hương, bà Lống, những người đang từng ngày, từng giờ đau đáu về tương lai của chiếc nón lá, hy vọng rằng, với sự quan tâm cùng hướng đi đúng đắn của các cấp ủy, chính quyền địa phương, một ngày không xa nghề làm nón lá sẽ được khôi phục và phát triển.

Ghi chép: Thu Trang

Tin cùng chuyên mục