Khẳng định vị thế chè xứ Tuyên

TQĐT - Chuyện về một người chủ cơ sở chế biến chè đã cất công lặn lội khắp các tỉnh trong nước để giới thiệu, quảng bá sản phẩm chè Tuyên Quang. Anh đã góp phần quan trọng khẳng định vị thế chè xứ Tuyên với đông đảo khách hàng gần xa. Người đó là anh Nguyễn Công Sử, chủ Cơ sở chế biến chè Sử Anh ở thôn 17, xã Phú Lâm (Yên Sơn).

 “Trình làng” chè đặc sản


Sản phẩm Trà Ngọc Thúy của cơ sở chế biến
 chè Sử Anh.

Tại Hội nghị phát triển chè của tỉnh do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức mới đây có tới 45 cơ sở chế biến chè mang sản phẩm đến “trình làng”. Cơ sở chế biến chè Sử Anh ở thôn 17, xã Phú Lâm (Yên Sơn) trưng bày 4 loại chè thành phẩm. Trong đó có 2 loại chè Ngọc Thúy (chè khô sao suốt, chè tươi xanh còn gọi chè túi lạnh) và 2 loại chè khô chế biến từ giống Bát Tiên và giống chè PH1. Điều đáng quan tâm là sản phẩm chè xanh túi lạnh Ngọc Thúy khi được trình diễn pha trà tại hội nghị đã thu hút khá đông đại biểu tham quan và thưởng thức. Bởi sắc nước trong chén trà sánh vàng, tỏa hương ngào ngạt và khi uống có vị ngọt đọng sâu trong cổ họng.

Chè túi lạnh Ngọc Thúy không giống như các sản phẩm chè sao suốt mà sản phẩm khi mở ra vẫn còn tươi nguyên như chỉ qua máy vò. Mỗi gói chè định lượng cho 1 ấm, mỗi túi có 10 gói nhỏ, giá bán 120.000 đồng/túi tính ra mỗi ấm trà có giá 12.000 đồng. Anh Nguyễn Công Sử, chủ Cơ sở chế biến chè Sử Anh ở thôn 17 cho biết, Ngọc Thúy là giống chè đặc sản, canh tác theo công nghệ sinh học ANISAF SH-01 và chế biến khác hẳn chè xanh truyền thống.

Cơ sở chế biến chè Sử Anh có vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Năm 2016, cơ sở sản xuất được 10 tấn chè thành phẩm giá bán 350.000 đồng/kg, doanh thu 3,5 tỷ đồng. Ngoài ra, cơ sở còn liên doanh với hộ dân trong xã Phú Lâm thu mua chè Bát Tiên và giống chè PH1 sản xuất và tiêu thụ 10 tấn chè khô, doanh thu 2 tỷ đồng. Tính chung các sản phẩm chè của cơ sở, năm 2016 đạt doanh thu 5,5 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế trên 300 triệu đồng, tạo việc làm theo thời vụ cho 35 người.

Vượt khó để có vùng chè 

Hỏi về nguồn cơn có được vùng chè đặc sản, anh Nguyễn Công Sử bảo, chúng tôi là thế hệ thứ 2 ở vùng chè này. Bố tôi là ông Nguyễn Công Sơ từng là bộ đội chống Pháp thuộc Trung đoàn 242 lên xây dựng Nông trường chè Tháng Mười từ năm 1958. Đấy là những người đưa cây chè đầu tiên về đất Tuyên Quang và thế hệ chúng tôi hiện nay đang kế tục sự nghiệp cha anh.   

Khác với nhiều hộ nhận khoán vườn chè với Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm, gia đình anh Sử chịu nhiều cái khó về vùng chè này. Chẳng là năm 2005, đội 19 của công ty có 10 ha chè Trung du già cỗi, mất khoảnh, năng suất thấp nên không hộ nào chịu nhận, gia đình anh được doanh nghiệp động viên nhận về. Để nâng cao năng suất vườn chè, gia đình đã huy động vốn mua cả 100 tấn phân trâu bò của bà con quanh vùng đổ vào đồi chè.

Năm 2006, chưa kịp thu hoạch thì tỉnh có chủ trương chuyển đổi giống chè mới và trồng lại diện tích chè năng suất thấp dưới 7 tấn/ha. Thế là diện tích chè của gia đình lại phá bỏ trồng lại bằng giống chè Ngọc Thúy, loại chè đặc sản (chỉ có ở Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm), nguyên liệu để chế biến chè xanh nội tiêu. Tổng giá trị đầu tư trồng mới là 70 triệu đồng/ha do Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm bỏ ra, gia đình chỉ thực hiện khâu bảo vệ, chăm sóc diện tích chè trên.

Sau 3 năm bón phân, xới cỏ, khi chè cho búp cũng là thời điểm công ty chuyển đổi công nghệ chế biến chè từ OTD sang CTC nên giống chè Ngọc Thúy không nằm trong cơ cấu nguyên liệu sản xuất chè đen xuất khẩu. Gia đình anh lại được công ty động viên tự sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Nguồn vốn đầu tư trồng chè của doanh nghiệp sẽ được khấu hao trừ dần trong 15 năm. 


Vườn chè Ngọc Thúy của gia đình anh Nguyễn Công Sử, xã Phú Lâm (Yên Sơn).

Khẳng định vị thế chè xứ Tuyên

Nhìn vườn chè đặc sản của anh Sử xanh mướt mát, những luống chè cuốn quanh đồi bát úp theo hình vành khăn khiến ai cũng thích thú. Nhưng anh Sử bảo, đây là nghề vất vả, bởi khi thời tiết mát mẻ lại là lúc chè ngủ (không cho búp). Bước vào tháng 5 trở đi, chè cho thu hái thì thời tiết lúc nắng chói chang, khi mưa rào bất chợt người làm chè càng vất vả hơn. 

Trao đổi việc chế biến và tiêu thụ sản phẩm chè thành phẩm, chị Trần Thị Vân Anh (vợ anh Sử) bảo, đấy là cả câu chuyện dài. Ấy là năm 2011, khi chè Ngọc Thúy cho búp, gia đình phải thuê người hái, nguyên liệu đưa về chế biến qua các bước: Làm héo, lên men, vò chè, sao khô đánh mốc, lấy hương. Vậy mà khi vợ chồng chị đi chào hàng ở Hà Nội, Quảng Ninh rồi đến Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Dương, mọi người chưa biết về sản phẩm chè của cơ sở mình chế biến nên các điểm đại lý chè ở các tỉnh trên không mấy mặn mà.

Anh Sử tâm sự, năm đó anh đến phố Lò Đúc (Hà Nội) chờ mãi mới gặp được ông chủ bán chè để giới thiệu sản phẩm. Ông chủ cửa hàng hỏi tưng tửng:  “Chè ở vùng nào?”. Anh vui mừng và vồn vã đáp: “Dạ, thưa anh, chè ở Tuyên Quang ạ”. Nghe vậy, ông chủ liền nói: “Thôi, chú đi đi để anh bán hàng, chè xứ cậu ở đây ít người dùng lắm”. Cực nhọc vì đường xa, lại tiếc mồ hôi công sức chắt chiu trong những cọng chè, anh lẳng lặng đã để lại túi chè khô Ngọc Thúy sao suốt có ghi tên, địa chỉ và số điện thoại cho chủ cơ sở chế biến. Bỗng một tuần sau, ông chủ chè ở Lò Đúc gọi điện hỏi địa chỉ và đánh hẳn chuyến xe 7 chỗ đưa đoàn người đến nhà, thăm vùng nguyên liệu và xem cách thức chế biến chè của cơ sở. Ngay sau đó, ông đã ký hợp đồng tiêu thụ cả 4 loại sản phẩm chè thành phẩm do cơ sở sản xuất và chế biến. 

Theo anh Sử, để khẳng định vị thế của chè xứ Tuyên thì người làm chè phải chuyên tâm. Đó không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng nguyên liệu mà cách thức chăm bón đúng quy trình cũng giảm bớt được độ chát, đắng. Khi thu hái chè không để dập nát búp chè và về phải sao ngay. Gia đình anh Sử thuê người hái tay và chỉ được phép hái 1 tôm 2 lá, nếu không đúng gia đình yêu cầu người hái phải nhặt lại mới trả công nhật, người hái giỏi cũng chỉ đạt trên 10 kg/công. Khi chế biến phải tìm tòi sáng tạo để có sản phẩm mới, đồng thời cải tiến mẫu mã, bao bì sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường.

Ghi chép: Duy hùng

Tin cùng chuyên mục