Trăn trở nghề truyền thống

TQĐT - Một thời, ở các phường Minh Xuân, Hưng Thành, Ỷ La, Tân Hà (TP Tuyên Quang), nghề truyền thống phát triển khá mạnh. Những tấm phên, tấm cót từ đôi bàn tay khéo léo của các “nghệ nhân” đã đi vào thơ nhạc: “Còn không em nghề đan phên, đan cót…”. Rồi nghề gò tôn, nghề chổi chít, đan nón trở nên thịnh hành, không ít gia đình kiếm bộn tiền, mua được cả nhà mặt đường. Nhưng giờ đây, nghề truyền thống đang bị mai một, có nghề đã mất đi trong niềm tiếc nối khôn nguôi của nhiều người dân phố thị.

Thời “hoàng kim”

Đôi mắt ông Trần Long Bình, tổ 4, phường Tân Hà (TP Tuyên Quang) như ánh lên khi được hỏi về nghề làm chổi chít. Ông Bình bảo, cả khu vực này, những bông chít được phơi vàng ươm trong nắng. Chít phơi được nắng đảm bảo cho chất lượng chổi, vậy nên chổi chít Tân Hà một thời nức tiếng… Mọi người đủ mọi lứa tuổi đều có thể làm nghề chổi chít. Gần 20 hộ trong tổ sống bằng nghề chổi chít, không khí làm nghề thật sôi nổi… 


Đôi bàn tay khéo léo của ông Quan Văn Ơn, tổ 7, phường Tân Hà (TP Tuyên Quang)
khi tuốt từng nan để đan nón.

Ông Bình thường thu mua chít của người dân tại các xã Công Đa, Đạo Viện, Tân Tiến (Yên Sơn) và một số xã vùng cao huyện Na Hang, Lâm Bình. Giá chít dao động từ 17 đến 20 nghìn đồng/kg, chổi chít ông bán buôn với giá trung bình từ 22 đến 35 nghìn đồng/cái, tùy theo độ dày, mỏng mà khách hàng đặt mua. Chổi của cả khu khi ấy người ta vẫn bảo là dạng “chổi mòn”, bởi khi sử dụng lâu, chổi chỉ mòn đi chứ không rụng chít, những bông chít cong theo chiều quét chứ không bị gãy gập bởi sự khéo léo từ khâu chọn chít xanh, khô cho đến công đoạn phơi, bện chít cũng được người thợ công phu thao tác cẩn thận. Ông nhớ lại, cách đây khoảng 6 năm, cánh thương nhân thu mua chít ở các tỉnh Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hải Dương “đánh” cả chuyến công ten nơ lên bến xe khách thành phố, chỉ đợi người dân tập kết đủ hàng là chở liền về xuôi. Ông bảo: “Trông vào những chuyến xe ấy, nhà nào cũng chịu khó bám nghề, chuyện cơm ăn, áo mặc và học hành cho bọn trẻ là chuyện nhỏ”.

Ông Quan Văn Ơn, tổ 7, phường Tân Hà nổi tiếng khắp thành phố với đôi bàn tay “vàng” đan nón tre. Cái tài của ông Ơn được thể hiện qua từng chi tiết nhỏ của chiếc nón. Ông tỷ mỷ từ khâu chọn giống tre mốc, tre giang với từng gióng phải đạt từ 60 cm trở lên để làm nguyên liệu cho sản phẩm. Tre phải được ngâm nước sạch ngay khi mua về để làm trắng nan và không bị mất nhựa. Ông bảo, cây tre vào mùa hè thì ngâm 18 ngày, mùa thu ngâm 21 ngày, tới mùa đông lại ngâm 25 ngày, sau đó ông vớt về phơi khô và tuốt nan. Khâu tuốt nan rất quan trọng, làm sao nan nón phải mỏng như lá lúa, hai bên mỏng hơn ở giữa để khi đan các nan khít vào nhau mà không tạo ra khe hở. Ông Ơn bảo, nghề nón ông mới gắn bó từ năm 2013 nhưng ông thạo đan lát từ khi còn là chàng trai tuổi đôi mươi. Đây cũng là lợi thế từ đời cha, đời ông truyền dạy. Khi nghề mây tre đan ở thành phố dần mai một thì nghề đan nón với ông như sự đồng hành may mắn. Mỗi ngày, ông đan được khoảng 1 đến 2 nón, hầu như đều làm theo đơn đặt hàng. Nếu là nón nguyên liệu 100% từ cật tre thì có giá 200 nghìn đồng/chiếc, còn nón ngoài cật là 120 nghìn đồng. Những chiếc nón ông làm đến tay cả những người quê xa như Cộng hòa Séc, Đan Mạch cho đến các tỉnh Thái Nguyên, TP Hồ Chí Minh, Huế, Quảng Ninh.

Dù đã ở tuổi ngoài lục tuần, ông Lê Ngọc Tuấn, tổ 4, phường Hưng Thành (TP Tuyên Quang) vẫn hào hứng lắm khi kể về nghề gò hàn mà gia đình ông lưu truyền 5 thế hệ. Ông Tuấn bảo: “Tiếng đe, tiếng búa gắn bó với ông từ ngày còn là đứa trẻ những khi ông theo cha làm ở Hợp tác xã Cơ khí Quyết Thắng. Đến khi trưởng thành, nghề gò hàn đã nuôi sống và làm giàu cho cả gia đình”. Ông còn nhớ những năm 90 của thế kỷ trước là thời “vàng son” của nghề gò hàn. Nhà nhà, người người làm nghề gò hàn và cùng giàu lên với nghề. Sản phẩm khi ấy là những chiếc gầu sòng, thùng đựng lúa, ô roa tưới cây, cuốc xẻng, xô chậu chứa nước, hòm va li, đồ nấu rượu phục vụ đời sống, sản xuất của người dân. Nguyên liệu thu mua về giá rẻ nên có lúc “làm 1 lãi 10” là vậy. Nhờ có nghề mà ông mua đất, xây nhà, mở xưởng rồi hai con trai của ông cũng có đất có nhà, lo chu toàn cho các con.

Trăn trở chuyện nghề

Cùng chung nỗi niềm, những người làm nghề truyền thống hiện đều lo lắng nghề không trụ vững trong nền kinh tế thị trường. Ông Bình tâm sự: “Giờ cả khu phố chỉ duy mình gia đình ông trụ với nghề chổi chít, nhưng từ đầu năm đến nay, hơn 2.000 chiếc chổi mà ông làm đều “đắp chiếu”, một phần bởi thị trường những nơi thu mua cũng đã tự sản xuất được, một phần giá chổi xuống thấp không còn đảm bảo cho cuộc sống, mọi người bỏ đi làm thợ xây, công nhân, làm nông nghiệp chứ không còn mặn mà với nghề”. Vợ chồng ông Bình cũng chuyển sang bán hàng tạp hóa, các hộ khác trong khu phố ông ở cũng đủ kế mưu sinh. Hình ảnh “Nắng vàng phố chít” không còn nữa.


Ông Trần Long Bình, tổ 4, phường Tân Hà (TP Tuyên Quang) đã có thời “hoàng kim”
với nghề làm chổi chít.

Ông Tuấn nhíu mày khi ngẫm về tương lai với nghề, bởi cả khu phố, ngoài xưởng của ông và các con, cháu họ ông thì chẳng còn nhà nào theo nghề gò hàn. Những sản phẩm mà ông làm ra giờ đều có đồ nhựa thay thế với giá rẻ hơn một nửa nên việc cạnh tranh nay chỉ còn nhờ chất lượng. Ngoài những sản phẩm thường dùng, ông cũng nghiên cứu làm bộ nồi nấu phở sử dụng điện với giá bán 3 triệu đồng/bộ, hay chuẩn bị cho ra đời cả máy nướng chả sử dụng điện không cần đến than, củi. Ông Tuấn bảo: “Chỉ khi cập nhật thị trường mới có thể trụ được, nhưng rồi đây khi không ai theo nghề nối nghiệp cha con ông thì nghề sẽ mất…” - Ông Tuấn thở dài. Ở Hưng Thành giờ những người theo nghề gò hàn thủ công chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. 

Cầm trên tay chiếc nón được làm tỷ mỷ, ông Ơn trăn trở lắm, bởi: “Cả gia đình không có ai theo nghề đan lát của ông, vẫn biết là “nghề chọn người” đó là cái duyên, nhưng với ông có người theo học, chăm chú muốn thành nghề đó là một vinh dự. Hiện cũng có 4 người ở huyện Chiêm Hóa xuống theo ông học nghề này nhưng họ còn đang lo lắng bởi đầu ra của sản phẩm còn bấp bênh”. Với ông, truyền nghề đã vậy nhưng để duy trì nó còn cần tới sự vào cuộc của địa phương để những người theo nghề có đầu ra ổn định. 

Thành phố đã từng quy hoạch xây dựng các điểm tiểu thủ công nghiệp ở các phường: Nông Tiến, Ỷ La, Tân Hà. Cụ thể, xây dựng và duy trì nghề làm chổi chít tại phường Tân Hà; khôi phục nghề đan cót tại khu vực Xuân Hòa, phường Minh Xuân; nghề làm tăm giang tại phường Minh Xuân, Tân Hà... Theo ông Trần Xuân Thiểm, Bí thư Đảng ủy phường Tân Hà, thành phố cần xem xét chỉ đạo phát triển một số nghề thủ công nghiệp tận dụng lợi thế về đất đai, khai thác được nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương như vật liệu xây dựng, nguyên liệu gỗ, tre để phát huy tiềm năng về nguồn nhân lực, sức lao động; khôi phục một số nghề thủ công truyền thống như hàng mây giang đan, hàng dệt thổ cẩm, mộc chạm trổ, xây dựng các mô hình, các sản phẩm chế biến từ tre, lá... Thành phố cần có cơ chế chính sách, hỗ trợ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật kết hợp với nghề thủ công truyền thống, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động khuyến khích nhân dân, các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tham gia thực hiện. 

Phát triển sản xuất, tiêu thụ các mặt hàng thủ công truyền thống gắn với phục vụ chương trình phát triển du lịch của tỉnh trong dịp Tết và Lễ hội Thành Tuyên đang là định hướng mà thành phố hướng tới. Đây là “đất sống” cho những người như ông Ơn, ông Bình, ông Tuấn cống hiến tài năng, sáng tạo truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, góp thêm sản phẩm du lịch cho thành Tuyên thơ mộng.

Phóng sự: Thùy Linh

Tin cùng chuyên mục