Tuyên Quang - Thủ đô Kháng chiến

TQĐT - Nhiệm vụ chống giặc dốt được đẩy mạnh, các lớp học bình dân lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi tham gia; các lớp học phổ thông bắt đầu được xây dựng. 

Bằng những nỗ lực phi thường của người dân, từ đầu năm 1946 trở đi, tình hình xã hội Tuyên Quang ngày càng ổn định, chính quyền cách mạng được giữ vững, ngày càng vững mạnh; nạn đói, nạn dốt bị đẩy lùi một bước quan trọng; sản xuất nông nghiệp được khôi phục và có bước phát triển. Kết quả bước đầu của cuộc đấu tranh chống giặc đói, giặc dốt có ý nghĩa rất lớn. Nó không chỉ bảo đảm sự ổn định tình hình kinh tế - xã hội mà còn tạo điều kiện thuận lợi xây dựng thực lực để đối phó với giặc ngoại xâm. 

Thời gian từ tháng 9-1945 đến trước ngày toàn quốc kháng chiến, Đảng bộ và nhân dân Tuyên Quang phát huy mạnh mẽ tinh thần cách mạng, giải quyết tốt những nhiệm vụ trước mắt. Trong hơn một năm đó, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được Tỉnh ủy Tuyên Quang vận dụng sáng tạo vào tình hình cụ thể. Chính điều đó kết hợp với tinh thần cách mạng, lòng yêu nước, niềm hân hoan được sống trong độc lập, tự do của nhân dân đã tạo nên sức mạnh chuẩn bị cho Tuyên Quang đảm nhận vai trò hậu phương, căn cứ địa hết sức quan trọng sắp tới. 

Tuyên Quang - Trung tâm An toàn khu 

Sau Hội nghị Quân sự toàn quốc của Đảng, cuối tháng 10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên Việt Bắc để chuẩn bị địa điểm xây dựng căn cứ địa. Việt Bắc là vùng rừng núi hiểm trở gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang. Một số địa điểm thuộc các huyện: Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên), Chợ Đồn, Chợ Rã (thuộc Bắc Kạn), Sơn Dương, Chiêm Hóa, Yên Sơn, Na Hang (thuộc Tuyên Quang) dự kiến được chọn làm nơi ở và làm việc của các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ, trong trường hợp phải dời Thủ đô Hà Nội đi kháng chiến.                                                                                     

Vũ Bé (Theo các tài liệu lịch sử)

Tin cùng chuyên mục