Tiếng việt | English

Tân Trào - Thủ đô Khu Giải phóng

TQĐT - Trong các ngày từ 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị Cán bộ toàn quốc của Đảng họp tại một căn lán tạm trên rừng Nà Nưa (Nà Lừa).

Dự Hội nghị có gần 30 đại biểu, thay mặt cho 5.000 đảng viên của các Đảng bộ miền Bắc, Trung, Nam, các chiến khu, trong đó có các đồng chí: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Song Hào, Trần Đăng Ninh, Hà Huy Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Vũ Anh, Vũ Oanh, Phan Mỹ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, Lê Đức Thọ, Hoàng Hữu Nam, Vũ Quang, Ung Văn Khiêm, Hoàng Anh, Cao Hồng Lãnh, Đặng Việt Châu, Khuất Duy Tiến, Trần Đức Vịnh, Nguyễn Thị Như, Nguyễn Tài,... 

Sau khi phân tích các điều kiện khách quan, chủ quan, Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Hội nghị cũng quyết định đường lối chính sách đối nội, đối ngoại, quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, quyết định nội dung Quốc dân Đại hội. Hội nghị Cán bộ toàn quốc của Đảng có tính chất như một đại hội trong hoàn cảnh đặc biệt: Ra nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng, bầu bổ sung ủy viên Trung ương. 

Ngày 13-8-1945, vào lúc 23h, Ủy ban khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh toàn dân đứng dậy giành chính quyền. Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội khai mạc tại đình Tân Trào. Đại biểu đến từ khắp mọi miền đất nước: Nam Bộ, Trung Bộ, Bắc Bộ, kiều bào ở nước ngoài, các đảng phái chính trị, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo cùng những nhân sĩ trí thức. 

Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu, đồng chí Nguyễn Ái Quốc được giới thiệu là cụ Hồ Chí Minh và các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Chí Thanh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Vũ Oanh, Hà Huy Giáp, Cao Hồng Lãnh, Song Hào, Hoàng Văn Thái, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Xuân Thủy, Đàm Quang Trung, Lê Giản, Lê Quảng Ba, Trần Quốc Hoàn, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Trân, Khuất Duy Tiến, Phan Mỹ, Trần Đức Thịnh, Hà Giang, Trần Thị Minh Châu, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Thị Như, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Tài, Bùi San, Cù Huy Cận, Hoàng Đạo Thúy, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Dương Đức Hiền, Đỗ Đức Dục, Văn Tân, Tô Quang Đẩu, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Dương Hồng,... Đại diện các giới đồng bào, có: Bùi Thị Tình, Hoàng Văn Đức, Trần Thị Tý, Nguyễn Thị Thanh Thúy, Nguyễn Đức Phương, Vũ Công Thuyết, Nguyễn Thị Thắng, Nguyễn Văn Xuân, Hoàng Văn Đức, Vũ Thị Khôi, Anh Bảo, Nguyễn Thị Thuần, Lê Văn Chánh, Quách Hi và Nguyễn Dân (Ottoholm) là ngoại kiều gốc Bỉ.

Đại hội thảo luận hai vấn đề: Tổng khởi nghĩa và bầu Ủy ban dân tộc giải phóng. Đại hội thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh: Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập; vũ trang toàn dân, phát triển quân giải phóng Việt Nam; tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tùy từng trường hợp sung công hay chia cho dân nghèo; bỏ các thứ thuế do Nhật, Pháp đặt ra, đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ; ban bố những quyền dân chủ cho dân: a) Nhân quyền, b) Tài quyền (quyền sở hữu), c) Dân quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền; chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân; ban bố luật lao động: ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm; xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp, mở mang ngân hàng; xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ học; kiến thiết nền văn hóa mới; thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và ủng hộ của họ. Đó cũng là chính sách của nước Việt Nam mới.

(còn nữa)                                                                            

Vũ Bé (Theo các tài liệu lịch sử)    

Tin cùng chuyên mục