Tiếng việt | English

Tuyên Quang xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)

- Giá trị tổng sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng 87,5%, tốc độ tăng bình quân hằng năm là 23,3%. Đã xây dựng và phát triển mạnh công nghiệp quốc doanh địa phương.

Từ chỗ chỉ có ngành in và điện lực, tới năm 1960, phát triển thêm 6 ngành mới. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp quốc doanh địa phương đã chiếm 43,85% trong giá trị tổng sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp của tỉnh. 

Khôi phục, mở rộng, làm mới 202 km đường. Một số tuyến đường mới được khánh thành, trong đó có tuyến đường Chiêm Hóa - Minh Đức 1, Chiêm Hóa - Na Hang. Khối lượng vận tải trong 3 năm đạt mức 67.642.000 tấn/km. Đường điện thoại thông suốt từ tỉnh đi các huyện và nối thêm mạng đi hạ huyện Sơn Dương. Đã đầu tư 1.890.000 đồng cho xây dựng cơ bản (chiếm 22,9% tổng chi ngân sách của 3 năm), tăng 1,36 lần so với giai đoạn 1955 - 1957. 

Thu ngân sách của địa phương tăng 6,6% so với giai đoạn trước, chi ngân sách tăng 11,5% (trong đó trên 50% là chi cho phát triển kinh tế và văn hóa, xã hội). Từ 3 hợp tác xã thí điểm ở Ỷ La, Tứ Quận, Lang Quán (Yên Sơn), tới năm 1960 đã có 149 xã có hợp tác xã tín dụng, toàn tỉnh có 151 cơ sở tín dụng với 24.191 hộ xã viên (chiếm 70% tổng số hộ nông dân). Giữa năm 1960, trên 50% số hộ nông dân tham gia hợp tác xã mua bán. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa chiếm lĩnh hoàn toàn khu vực bán buôn, và 81,59% khu vực bán lẻ. Năm 1960 doanh số bán ra của mậu dịch quốc doanh bằng 318,65%, doanh số thu mua bằng 742,65% so với năm 1957. 

Tỉnh đã vận động 1/3 số đồng bào rẻo cao định canh, định cư. Đời sống của đồng bào đã chuyển biến tích cực, tới năm 1960, đồng bào đã tự túc được lương ăn, quần áo, công cụ lao động. Tại các xã vùng cao đã có 27 y tá, 11 hộ sinh, 111 vệ sinh viên, 111 túi thuốc... 

Trong 3 năm, có 1.226.000 lượt người được xem chiếu bóng, số lượng sách báo phát hành đạt 1.737.000 bản, các tổ văn nghệ quần chúng tăng 2 lần so với năm 1957; đã xây dựng thêm 2 đài truyền thanh ở huyện Chiêm Hóa và huyện Na Hang. So với năm 1957, các cơ sở y tế tăng 47,7 lần, phong trào phòng bệnh và rèn luyện sức khỏe phát triển tốt. 

Đã xóa mù chữ cho 15.476 người (tăng 4,5 lần so với năm 1957), trong đó có 30 xã đã thoát nạn mù chữ. Tất cả các huyện đều có trường bổ túc văn hóa tập trung. Trong 3 năm, có 12.164 người mãn khóa học bổ túc văn hóa (tăng 4,25 lần so với năm 1957). Phục vụ công tác đào tạo cán bộ người dân tộc, năm 1959, tỉnh thành lập Trường thiếu nhi vùng cao; năm 1960, lại mở tiếp Trường văn hóa dân tộc. Tới năm 1960, đã xây dựng 197 trường phổ thông, tất cả các xã đều có trường cấp I. Năm 1959, trường phổ thông cấp III của tỉnh được xây dựng. Năm 1960, toàn tỉnh có 13.394 học sinh phổ thông các cấp, tăng 97,5% so với năm 1957 (riêng học sinh người dân tộc tăng 10 lần) và 10.056 học sinh vỡ lòng (tăng 62% so với năm 1957). 

Hệ thống chính trị được củng cố. Ngày 15-5-1959, toàn tỉnh có 93,64% cử tri đi bỏ phiếu bầu 2.640 đại biểu Hội đồng nhân dân xã và 52 đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Ngày 8-5-1960, có 95,54% cử tri toàn tỉnh tham gia bầu cử Quốc hội khóa II. 

Tỉnh tổ chức hàng chục cuộc mít tinh lên án việc Mỹ - Diệm gây ra vụ thảm sát Phú Lợi (1-12-1958) và ban hành Đạo luật 10-59 (6-5-1959). Trong 3 tháng đầu năm 1959, hơn 10.000 người tham gia các cuộc mít tinh, 34.299 người ký tên vào 140 bản kiến nghị phản đối hành động tàn ác của Mỹ - Diệm ở miền Nam. Ngày 3-4-1960, lễ kết nghĩa giữa tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Bình Thuận được tổ chức. 

Trong 3 năm (1958 - 1960), đã có 485 chiến sỹ thi đua, 4.340 lao động tiên tiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ tặng 7 Huân chương Lao động, 3 Bằng khen cho các cá nhân, tập thể xuất sắc. Năm 1959, Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba; năm 1960, Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho tỉnh vì có thành tích xuất sắc về phát triển sản xuất trong 2 năm (1959 - 1960)...            

                                                                               Vũ Bé (Theo các tài liệu lịch sử)

Tin cùng chuyên mục