Bảo tồn và sử dụng bền vững một số loài cây thuốc

TQĐT - Đề tài “Điều tra, đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại một số xã vùng cao huyện Na Hang, đề xuất giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững một số loài có giá trị và triển vọng” vừa được tiểu ban chuyên ngành khoa học và công nghệ tỉnh tổ chức đánh giá nghiệm thu. Việc triển khai thực hiện đề tài này đã góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn cây thuốc tại địa phương.

Các cán bộ tham gia thực hiện đề tài thu thập được một số mẫu cây thuốc
trên địa bàn huyện Na Hang.

Đề tài do Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) thực hiện từ tháng 1-2014 đến tháng 12-2016. Theo tìm hiểu của đơn vị thực hiện đề tài, đồng bào các dân tộc huyện Na Hang có vốn tri thức bản địa sử dụng các loài động, thực vật và khoáng vật làm thuốc. Các cây thuốc được người dân địa phương lấy từ rừng chế thành những bài thuốc trị bệnh hiếm muộn con, dưỡng thai, lá thuốc tắm phụ nữ sau sinh, chữa ho, cảm cúm, sổ mũi, đau mắt, hạ sốt... trong đó có một số loài cây thuốc sử dụng thông dụng như: Hà thủ ô đỏ, tảo ngưu dalavay, sa nhân và nhiều bài thuốc của đồng bào dân tộc Tày, Dao, Cao Lan vẫn được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ  khác.

Đơn vị thực hiện đề tài đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Na Hang thực hiện đề tài và điều tra tại một số xã và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang thống kê được 647 loài thực vật được ghi nhận sử dụng làm thuốc, thuộc 137 họ, 4 ngành thực vật gồm ngành Thông đất, Dương xỉ, Mộc lan và ngành Thông; thống kê được sự phân bố của 30 loài cây thuốc quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng được ưu tiên bảo tồn; 23 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam; 17 loài có tên trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam; 7 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN (là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động, thực vật trên thế giới)… Đồng thời, xác định được một số cây thuốc mà đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện sử dụng như: Dân tộc Tày sử dụng 223 loài, dân tộc Dao sử dụng 164 loài và Cao Lan sử dụng là 209 loài. Trong cùng một nhóm bệnh thì số loài cây thuốc mà người Dao sử dụng là nhiều hơn. Trong các bộ phận trên cây thuốc được sử dụng làm thuốc của các đồng bào dân tộc Tày, Dao, Cao Lan thì phần thân cây được sử dụng nhiều nhất, tiếp đến là lá, toàn cây và rễ, củ quả và hạt.

Đơn vị thực hiện đề tài tiến hành xác định khả năng tái sinh, mật độ tái sinh chủ yếu của các loài theo các độ cao từ 400 - 900 m, trong đó cây tái sinh ở chân núi chiếm tỷ lệ cao nhất. Đồng thời, lựa chọn để nhân giống 10 loài cây có triển vọng, trồng tại vườn ươm ở Thác Mơ, xã Sơn Phú (Na Hang) gồm: Tế tân balansa, bách bộ, râu hùm, nghệ, nghệ đen, thiên niên kiện, dây dâu xương, bình vôi, giảo cổ lam, hà thủ ô đỏ. Sau 50 ngày nhân giống, các loài cây thuốc có tỷ lệ ra rễ cao là tế tân balansa, bách bộ, râu hùm, nghệ, nghệ đen... Đề tài góp phần sàng lọc các loài cây có hoạt tính sinh học nhằm định hướng cho việc tạo chế phẩm sinh học làm thuốc. 

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Huy Thái, Phó Viện trưởng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, chủ nhiệm đề tài cho biết: Đề tài góp phần cung cấp thông tin đầy đủ về hiện trạng nguồn cây thuốc tại một số xã vùng cao huyện Na Hang, đặc biệt đối với các loài có tiềm năng khai thác và sử dụng, các thông tin về việc nhân giống của một số loài cây thuốc có giá trị về khoa học và kinh tế, phục vụ cho việc bảo tồn cũng như định hướng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp theo nhằm tạo ra chế phẩm thuốc từ một số loài có triển vọng khai thác. Đồng thời, nâng cao nhận thức về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn cây thuốc cho cán bộ quản lý tại khu bảo tồn và thu nhập cho người dân địa phương từ việc trồng, thu hái cây thuốc dưới tán rừng trong khu vực vườn rừng của người dân.

Bài, ảnh: Mai Hương

Tin cùng chuyên mục