Sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu chè: Một năm khởi sắc

TQĐT - Theo Hiệp hội chè Việt Nam, năm 2015, ngược lại với những khó khăn trong xuất khẩu chè của một số tỉnh, thành cả nước, thì tại tỉnh Tuyên Quang lại được đánh dấu bằng một năm khởi sắc. Các doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh đã xuất khẩu đạt 102% kế hoạch, tăng 4,72% so với năm 2014.

Vườn chè của người dân xã Tân Thành (Hàm Yên) được thâm canh theo tiêu chuẩn VietGap.     

Trong kết quả trên, Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm là doanh nghiệp có số lượng xuất khẩu chè lớn nhất, với 2.100 tấn, chiếm 58,3% lượng chè xuất khẩu của tỉnh. Chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu, năm 2013, công ty đã liên kết với tập đoàn Unilever (tập đoàn phân phối bán lẻ 2 quốc gia Anh và Hà Lan) để đầu tư đổi mới dây chuyền chế biến, áp dụng quy trình nông nghiệp an toàn bền vững trong chăm sóc và thu hái. Với một quy trình sản xuất nông nghiệp sạch từ khâu sản xuất đến chế biến, sản phẩm của doanh nghiệp đã đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để tiêu thụ tại các thị trường quốc tế.

Hàng năm, doanh nghiệp xuất khẩu xấp xỉ 2.000 tấn chè xanh, chè đen. Năm 2014, công ty đã xuất khẩu trực tiếp 1.300 tấn chè đen và hàng trăm tấn chè xanh, với giá đạt 1,9 USD/kg cho tập đoàn Unilever. Tổng doanh thu đạt 83,6 tỷ đồng, mức thu lợi nhuận sau thuế là 6,42 tỷ đồng. Năm 2015, công ty đã ký hợp đồng xuất khẩu 2.100 tấn, với mức giá ổn định là 1,9 USD/kg sản phẩm chè xanh và chè đen cho tổ chức Unilever để đưa vào các thị trường bán lẻ tại Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản và một số nước Nam Á. Tổng  doanh thu đạt trên 96 tỷ đồng. Với việc thực hiện một quy trình sản xuất an toàn khép kín như vậy, sản phẩm chè của doanh nghiệp đã tìm được chỗ đứng vững chắc trên các thị trường, ngay cả các thị trường khó tính nhất như Mỹ, Hà Lan. 

Nhận định của Hiệp hội chè Việt Nam, để có được kết quả trên, thời gian qua, tỉnh ta xác định chè là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực. Để nâng cao chất lượng cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm chè bảo đảm từng bước chiếm lĩnh thị trường lớn như: Nga, Mỹ và một số nước châu Âu, tỉnh đã không ngừng quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện cho các địa phương, người trồng chè đầu tư phát triển vùng nguyên liệu; thực hiện trồng mới, cải tạo diện tích giống chè trung du già cỗi, năng suất thấp bằng các giống chè lai cho năng suất cao, chất lượng tốt. Cùng với đó, tỉnh cũng yêu cầu ngành nông nghiệp tích cực tham gia vào việc thiết kế quy hoạch những diện tích chè được trồng mới. Đồng thời hướng dẫn hỗ trợ người làm chè áp dụng quy trình sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt nhằm gia tăng giá trị, bảo đảm phát triển bền vững. 


Cán bộ, công nhân Công ty cổ phần chè Mỹ Lâm (Yên Sơn) kiểm tra
các kiện hàng trước khi xuất khẩu. 

Đối với doanh nghiệp sản xuất, chế biến chè, tỉnh đã khuyến khích các doanh nghiệp, tìm kiếm đối tác liên kết, hợp tác trong sản xuất kinh doanh;  tranh thủ nguồn vốn từ các chương trình, dự án để đầu tư, đổi mới dây chuyền sản xuất cũng như công nghệ chế biến, bảo đảm không ngừng nâng cao chất lượng chè, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Với sự quan tâm, khuyến khích của tỉnh, các doanh nghiệp chè đã mạnh dạn hợp tác, liên kết, ứng dụng quy trình sản xuất cũng như công nghệ mới trong chế biến nhằm tạo ra sản phẩm chè có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Theo thống kê sơ bộ, hiện toàn tỉnh đã có 3 doanh nghiệp chè liên kết với các tổ chức để đầu tư phát triển vùng nguyên liệu cũng như đổi mới dây chuyền sản xuất gồm: Công ty cổ phần chè Sông Lô, Công ty cổ phần chè Tân Trào và Công ty cổ phần chè Mỹ Lâm. Sự đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, áp dụng quy trình sản xuất bền vững cũng như đổi mới dây chuyền chế biến, sản phẩm chè xuất khẩu của tỉnh đã được Hiệp hội chè Việt Nam đánh giá cao về chất lượng và cũng là một trong những địa phương lượng chè xuất khẩu lớn nhất đi các nước. 

Cũng theo nhận định của Hiệp hội chè Việt Nam, năm 2015 và một số năm tiếp theo sẽ tiếp tục là giai đoạn khó khăn của ngành chè, đặc biệt là vấn đề xuất khẩu. Nguyên nhân là bởi các cuộc khủng hoảng chính trị tại một số quốc gia và khu vực. Cùng với đó là tại nhiều địa phương, trình độ nhận thức của người làm chè chưa đồng đều, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng như phân bón hóa học vẫn còn cao, điều này dẫn đến tồn dư hóa chất trong sản phẩm chè sau khi chế biến. Đây là những nguyên nhân dẫn đến việc nhiều lô chè của Việt Nam không thể xuất khẩu được. Trước thực tế ấy, là một tỉnh có diện tích chè tương đối lớn, với 8.748,5 ha chè, trong đó diện tích cho thu hoạch 8.253 ha thì việc thay đổi tư duy sản xuất từ manh mún, nhỏ lẻ sang tập trung để áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp bền vững là yếu tố cốt lõi để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm chè tỉnh ta ở cả thị trường trong và ngoài nước.                  

Bài, ảnh: Đoàn Thư

Tin cùng chuyên mục