Nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp

TQĐT - Tỉnh ta có khá nhiều sản phẩm nông nghiệp, tuy nhiên giá trị cũng như hiệu quả kinh tế chưa cao, Phần lớn chưa có thương hiệu. Một số sản phẩm đã làm các thủ tục đăng ký nhãn hiệu nhưng không duy trì và phát triển tốt. Vì vậy, việc xây dựng thương hiệu cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, nhằm nâng cao sức cạnh tranh và giá trị kinh tế trên thị trường.

Nông dân xã Tân Thành (Hàm Yên) thu hái chè.

Lợi ích khi nông sản có thương hiệu

Việc xây dựng được nhãn hiệu giúp nông sản được bảo hộ quyền và lợi ích trên thị trường, đồng thời tăng sự tin tưởng của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh đã có 30 sản phẩm đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Trong đó có Cam sành Hàm Yên, miến dong Hợp Thành, bưởi Xuân Vân, chè Bát tiên Mỹ Bằng (Yên Sơn), chè xanh Vĩnh Tân (Sơn Dương), lạc Chiêm Hóa, mật ong Tuyên Quang.

Việc xây dựng thành công các nhãn hiệu đã giúp nhiều sản phẩm nông sản của tỉnh ta đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động tại địa phương. Huyện Hàm Yên đã có hàng nghìn hộ gia đình thu 100 triệu đồng/năm từ trồng cam, trong đó có 180 trang trại thu lãi hơn 1 tỷ đồng/năm. Vào mùa thu hoạch cam, huyện Hàm Yên giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 5.000 lao động.

Vùng bưởi Xuân Vân, Phúc Ninh (Yên Sơn) giải quyết việc làm cho hơn 1.000 lao động thời vụ. Ngành mía đường có tổng diện tích 10.374 ha, giải quyết việc làm cho 700 lao động của công ty và ký kết hợp đồng với hơn 20.000 hộ trồng mía. Đó là những tín hiệu đáng mừng cho ngành kinh tế nông nghiệp của tỉnh khi đã xây dựng thành công thương hiệu trên thị trường.

Ông Nguyễn Tiến Thành, Phó tổng Giám đốc Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương cho biết, hiện tại, sản phẩm đường của công ty được bảo hộ nhãn hiệu tại hơn 40 quốc gia trên thế giới. Phát triển thương hiệu đường, bên cạnh sản phẩm đường kính trắng truyền thống, công ty sẽ tập trung phát triển các sản phẩm đường tinh luyện có chất lượng cao để nâng cao giá trị; tích cực áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào trồng trọt và sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây mía.

Những khó khăn

Cam sành là 1 trong những sản phẩm đáng tự hào nhất của tỉnh ta, đã xây dựng được nhãn hiệu và có thương hiệu khi lọt top 50 đặc sản trái cây nổi tiếng nhất của Việt Nam. đạt top 10 thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam, năm 2015 được công nhận sản phẩm Thương hiệu vàng Nông nghiệp việt Nam, năm 2016 được chứng nhận đạt tiêu chí sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay loại trái cây này đang gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường. 


Vào vụ thu hoạch, cây cam sành đã giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động
 tại xã Phù Lưu (Hàm Yên).

Qua tìm hiểu thực tiễn thị trường cam Hàm Yên năm 2017 tại các xã Tân Thành, Phù Lưu, Yên Thuận... thì so với vụ năm ngoái, cam năm nay giảm từ 1.000 đến 2.000 đồng/kg. Theo Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hàm Yên Đàm Ngọc Hưng, một trong những nguyên nhân dẫn đến cam rớt giá là do sự cạnh tranh mạnh mẽ của của cam các tỉnh như Hà Giang, Bắc Giang, Hòa Bình... Hơn nữa thời điểm thu hoạch cam sành cũng đúng vào dịp một số loại trái cây có múi khác như cam chanh, quýt, bưởi chưa hết vụ nên cũng gặp khó khăn. Một khó khăn nữa là người dân thấy cây cam có hiệu quả kinh tế đã đua nhau trồng cam, mở rộng diện tích vượt hàng nghìn ha so quy hoạch hơn 5.000 ha của huyện.

Vấn đề nhận thức của người nông dân về xây dựng và bảo vệ thương hiệu chưa cao. Vì vậy, nhiều sản phẩm như chè, cam, bưởi đã có nguy cơ bị mất uy tín trên thị trường trong thời gian qua. Dạo qua thị trường trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, rất nhiều cửa hàng bày bán sản phẩm bưởi Soi Hà, xã Xuân Vân (Yên Sơn), giá từ 18 đến 35.000 đồng/quả. Tuy nhiên, không phải gian hàng nào sản phẩm bưởi cũng có chất lượng và đúng bưởi Soi Hà. Như vậy, tự nhiên sẽ bị mất giá trị của sản phẩm bưởi, nhất là khi du khách từ địa phương khác đến mua. Mới đây nhất tại một vài địa phương xảy ra tình trạng người nông dân pha trộn các loại tạp chất không rõ nguồn gốc nhằm làm tăng trọng lượng chè. Tuy chỉ xảy ra ở một vài nơi nhưng đã có tác động không tốt đến thương hiệu chè của tỉnh. 

Đến nay, toàn tỉnh đã có 30 sản phẩm đã xây dựng được nhãn mác, thương hiệu. Tuy nhiên, không phải sản phẩm nào sau khi xây dựng cũng phát triển tốt trên thị trường. Một số sản phẩm như gạo Kim Phú (Yên Sơn), vịt bầu Minh Hương (Hàm Yên)... được đánh giá khá cao về chất lượng, tuy nhiên vùng sản xuất quá nhỏ so với nhu cầu của thị trường nên khi thị trường có nhu cầu lớn không đáp ứng đủ. Một số sản phẩm chè đã xây dựng được nhãn hiệu, có cơ sở sản xuất nhưng do thương hiệu còn yếu, không đủ sức cạnh tranh với thị trường, vì vậy hoạt động chưa thực sự hiệu quả. 

Do yếu trong liên kết chuỗi giá trị, liên kết vùng miền nên nhiều sản phẩm nông nghiệp dù đã xây dựng được nhãn hiệu nhưng do tình trạng cung không đáp ứng đủ cầu nên đành “giậm chân tại chỗ”.  Việc trồng ồ ạt, thiếu quy hoạch và định hướng từng vùng chuyên canh dẫn đến tình trạng mất thương hiệu cũng như giá trị của sản phẩm trên thị trường.


Công nhân vận chuyển đường vào kho chứa đường thương phẩm của
Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương.

Những chiến lược nâng cao giá trị

Ông Nguyễn Văn Việt, Tỉnh ủy viên, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, để nông sản có chỗ đứng trên thị trường, những năm qua, tỉnh đã thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa đối với một số cây trồng, vật nuôi; khuyến khích phát triển kinh tế trang trại; hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ... Những sản phẩm như cá lăng, cá chiên, cá bỗng, chè Shan, chè Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên... sẽ được tỉnh ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu trong những năm tiếp theo.

Những năm gần đây, sản xuất theo chuỗi với hình thức hợp đồng tiêu thụ nông sản giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp ngày càng phát triển. Một số địa phương đã hình thành vùng chuyên canh, sản xuất tập trung lớn cho các sản phẩm có thế mạnh. Trong số 8 chuỗi sản xuất nông nghiệp mà  tỉnh ta xây dựng đã có 3 chuỗi có nhãn hiệu sản phẩm bao gồm chuỗi dong riềng, chuỗi cam và chuỗi chè.

Ông Phạm Ninh Thái, Giám đốc Ban điều phối Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh cho biết, dự án đã thực hiện hỗ trợ chuỗi chè hơn 1,8 tỷ đồng bao gồm: Xây dựng nhãn hiệu cho HTX chè Ngân Sơn - Trung Long (Sơn Dương) và chè 168 (Hàm Yên); hỗ trợ 1,6 tỷ đồng xây dựng chuỗi dong riềng, gồm xây dựng nhãn hiệu miến dong Hợp Thành cho HTX Thắng Lợi (Yên Sơn), hỗ trợ 25.000 bao bì nhãn mác sản phẩm. Hỗ trợ 3 tỷ đồng xây dựng chuỗi cam gồm, chứng nhận VietGap cho 5 HTX với diện tích trên 36 ha và hỗ trợ 7.000 bao bì đóng gói và 7.000 nhãn mác sản phẩm; hỗ trợ 5 lượt xúc tiến thương mại cho sản phẩm cam tại thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội.

Để nông sản của tỉnh tiếp tục có thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường, tỉnh ta cần có các giải pháp đồng bộ, hợp lý. Bên cạnh các chương trình, dự án phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm nông sản thì việc tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại là rất cần thiết. Cùng với đó, người nông dân cần nâng cao ý thức và chủ động tham gia vào các hội, hiệp hội, làng nghề để thống nhất quan điểm trong việc áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, hạn chế sản xuất tự phát, làm ảnh hưởng đến thương hiệu các sản phẩm địa phương.

                                                                                                                             Bài, ảnh: Đào Thanh

Ông Đỗ Hồng Thanh, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ:

Các dự án, ứng dụng và xây dựng nhãn hiệu hàng hóa, xây dựng thương hiệu sản phẩm đã góp phần đẩy mạnh phát triển các sản phẩm tiềm năng, thế mạnh, chủ lực của tỉnh, tạo ra các sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu của Tuyên Quang như: Cam sành Hàm Yên, vịt bầu Minh Hương (Hàm Yên), chè Tân Trào (Sơn Dương), miến dong Nhữ Hán (Yên Sơn)… Việc xây dựng nhãn hiệu hàng hóa góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Hiện Sở tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân hướng dẫn xây dựng nhãn hiệu tập thể và phát triển cho các sản phẩm hồng không hạt Xuân Vân (Yên Sơn); mật ong Tuyên Quang của HTX chăn nuôi ong Phong Thổ; xây dựng, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý “Hàm Yên” cho sản phẩm Cam sành Hàm Yên…

 

Ông Vũ Đình Hưng, Chủ tịch UBND huyện Hàm Yên:

Huyện Hàm Yên hiện đã có 134,7 ha cam được chứng nhận VietGAP tại các hộ, nhóm hộ thuộc xã Tân Thành, Phù Lưu, Yên Phú, Bằng Cốc, Yên Thuận, thị trấn Tân Yên. Người dân khi tham gia quy trình VietGAP được tập huấn nên kỹ thuật chăm sóc cây tốt hơn, năng suất cao hơn và chất lượng quả an toàn hơn; ngoài ra các hộ, nhóm hộ được hỗ trợ một phần vốn để mua máy móc, phân bón, thuốc; hỗ trợ lãi suất vốn vay. Để nhân rộng mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, UBND huyện khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh liên kết với các hộ trồng cam sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, góp phần nâng cao giá trị cam sành Hàm Yên. 

 

Ông Phạm Đình Thắng, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất miến dong Thắng Lợi, xã Lực Hành (Yên Sơn):

Để xây dựng và bảo vệ thương hiệu miến dong Hợp Thành, bên cạnh việc đầu tư dây chuyền sản xuất và thực hiện quy trình sản xuất an toàn, bảo đảm nâng cao chất lượng sản phẩm, hợp tác xã còn tích cực chủ động tham gia các hội chợ trong và ngoài tỉnh nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm. Bên cạnh đó, hợp tác xã cũng tìm kiếm, kết nối với các cửa hàng thực phẩm sạch trên cả nước để trưng bày và bán sản phẩm. Nhờ đó, nhiều người tiêu dùng đã biết đến thương hiệu và sử dụng miến dong Hợp Thành. Trung bình mỗi năm, hợp tác xã đưa ra thị trường tiêu thụ trên 100 tấn miến dong. 

 

Ông Trịnh Viết Dương, thôn Trung Long, xã Trung Yên (Sơn Dương):

Hiện nay, vì lợi ích trước mắt, một số hộ dân chưa quan tâm đến việc sản xuất chè sạch; lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón vô cơ vào sản xuất, làm mất uy tín của sản phẩm chè Tuyên Quang trên thị trường. Để thương hiệu chè Tuyên Quang có chỗ đứng trên thị trường, thì việc nêu cao vai trò, trách nhiệm của người nông dân trong sản xuất, chế biến chè là yếu tố then chốt. Ý thức được điều này, gia đình tôi cùng với các hộ trong thôn thực hiện sản xuất chè sạch theo tiêu chuẩn VietGAP; các khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến đều tuân thủ nghiêm ngặt theo quy trình sạch. Nhờ đó, sản phẩm chè của thôn sản xuất đến đâu được tiêu thụ hết đến đó, giá cao gấp 1,5 lần so với thị trường.

Tin cùng chuyên mục