Đầu thú được coi là tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp nào

Việc đánh giá đầu thú có được coi là tình tiết giảm nhẹ hay không là do tòa án quyết định

Việc TAND tỉnh Đắk Nông mới đây tuyên án tử hình đối với bị cáo Đặng Văn Hiến, người đã trực tiếp nổ súng làm chết 3 người và bị thương 13 người đang thu hút sự quan tâm của dư luận.

Bị cáo Đặng Văn Hiến tại phiên tòa sơ thẩm (Ảnh: Quốc Học)

Nhiều ý kiến nghiêng về bị cáo Đặng Văn Hiến, cho rằng mức án tòa sơ thẩm tuyên như vậy là quá nặng, không xem xét hết các tình tiết khách quan, chưa đặt trong mối quan hệ giữa hành vi phạm tội của bị cáo với tính chất, mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng của những bị hại là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội.

Có ý kiến lại cho rằng người ta đã biết tội và xin ra đầu thú để mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật vậy mà lại xử tử hình họ, vậy sự khoan hồng của pháp luật được thể hiện ở đâu trong việc xét xử vụ án này. 

Trong thực tế, tình tiết ra đầu thú của người phạm tội được áp dụng ra sao khi tòa tuyên án?

Luật sư Vũ Ngọc Chi (Công ty luật Tam Anh, Đoàn luật sư TP Hà Nội) cho biết, theo quy định tại khoản 2, điều 51 BLHS 2015, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Như vậy, việc đánh giá đầu thú có được coi là tình tiết giảm nhẹ hay không là do tòa án quyết định. Còn tự thú theo quy định tại tiết r, khoản 1, Điều 51 mới đương nhiên coi là tình tiết giảm nhẹ.

Theo quy định tại Điều 51 BLHS 2015, có 22 tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Đồng tình với lập luận của luật sư bảo vệ cho Đặng Văn Hiến cho rằng bị cáo phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; ngoài ra bị cáo còn có 4 tình tiết giảm nhẹ hình phạt như đầu thú, khắc phục hậu quả sau vụ án, khai báo thành khẩn và được gia đình nạn nhân làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, việc tuyên án tử hình đối với Hiến là quá nặng, luật sư Chi phân tích, về nguyên tắc khi áp dụng mức hình phạt cao nhất cần nhận thấy là họ không có khả năng cải tạo làm người tử tế, vụ án đặc biệt có tính chất nghiêm trọng, gây ra những hậu quả lớn cả về con người hoặc tài sản... Nhiều trường hợp cần phải cân nhắc để xem xét khi quyết định áp dụng hình phạt cao nhất đặc biệt là có yếu tố lỗi của phía bị hại, và vì lý do này mới xảy ra vụ án. Và với những tình huống như thế rõ ràng áp dụng hình phạt cao nhất là không thoả đáng./.

Theo VOV.vn

Tin cùng chuyên mục