Tiếng việt | English

Hiệu quả bước đầu sau 3 năm thực hiện mô hình mới về cấp bù thủy lợi phí

TQĐT - Đã có một thời, công tác quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí ở cơ sở trở thành câu chuyện bức xúc của người dân ở một số nơi. Khi mà nguồn kinh phí này được rót 100% cho Ban Quản lý công trình thủy lợi cấp xã. Có nơi, một năm được cấp vài trăm triệu để chi cho công tác quản lý, sửa chữa, duy tu các công trình thủy lợi nhưng vẫn loay hoay, lúng túng dẫn đến có nhiều nơi nguồn kinh phí sử dụng dàn trải, không đúng mục đích. Thế nhưng đó chỉ là câu chuyện từ 2013 trở về trước. Giờ đây, sau 3 năm thực hiện mô hình mới trong quản lý, khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi và sử dụng nguồn kinh phí này đã mang lại những thành công bước đầu.

Không còn lúng túng

Đưa chúng tôi đến thăm công trình đập thủy lợi Vực Dài thuộc xã Lang Quán (Yên Sơn), Giám đốc Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh Lê Hải Hùng chia sẻ, đây chỉ là một trong mấy chục công trình cấp bách, thiết yếu được Ban đầu tư từ kinh phí 30% trích lại trong nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí hàng năm theo quy định, hướng dẫn của tỉnh. Ông Hùng nhớ lại, khi chưa có Ban, nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí khi ấy được cấp về 100% cho cấp xã. Nhiều nơi đã chi nguồn kinh phí này, nhưng khi kiểm tra đến chứng từ quyết toán thì không có. Kinh phí hàng năm vẫn được cấp đều để các địa phương quản lý, khai thác, duy tu, sửa chữa, nâng cấp thường xuyên các công trình thủy lợi, song việc sử dụng kinh phí để đầu tư lại manh mún, nhỏ lẻ; nhiều nơi không biết cách lập hồ sơ sửa chữa công trình nên không dám thực hiện dẫn đến tình trạng một số nơi tiền thì để đấy nhưng công trình thủy lợi vẫn phải kêu cứu. Công tác hướng dẫn lập hồ sơ quyết toán các công trình chưa đồng bộ trong khi năng lực của cán bộ của Ban ở cơ sở trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn kinh phí còn hạn chế. Nhiều nơi không quyết toán được dứt điểm nguồn kinh phí này trong nhiều năm dẫn đến tồn đọng.

Đây là nguyên nhân dẫn đến sự lúng túng trong công tác quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí những năm trước đây. Trước tình trạng này, Sở Nông nghiệp và PTNT khi ấy đã trăn trở về một mô hình mới trong quản lý nguồn kinh phí này. Đó là kiện toàn, thành lập Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh. Sau các cuộc giám sát của HĐND tỉnh, trước những bức xúc của người dân liên quan đến quản lý, sử dụng nguồn kinh phí ở một số nơi, ý tưởng cho sự ra đời mô hình quản lý mới để chấm dứt những khó khăn trong quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí càng trở nên quyết liệt hơn. 


Công trình đập Pác Đến, thôn Pác Cáp, xã Phù Lưu (Hàm Yên) được đầu tư từ nguồn cấp bù
 thủy lợi phí của Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh.

Ý tưởng được trình xin ý kiến UBND tỉnh. Tuy nhiên, một ý tưởng mới hay mô hình mới bao giờ cũng gặp phải những ý kiến trái chiều. Một số người cho rằng không nên thành lập ban riêng để quản lý nguồn kinh phí này. Song trước những bất cập trong công tác quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí và tính cấp thiết cần phải có một mô hình quản lý mới hiệu quả, HĐND và UBND tỉnh đã đồng ý kiện toàn Ban quản lý, khai thác công trình thủy lợi tỉnh trên cơ sở sáp nhập và nâng cấp ban quản lý hai công trình thủy lợi liên huyện là Ngòi Là và Hoàng An Lưỡng. Đây là đơn vị làm đầu mối chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý, khai thác công trình thủy lợi, sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí từ tỉnh đến cơ sở. Kèm theo đó là một cơ chế, chính sách mới về quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí của tỉnh được ban hành. 

147 ban quản lý công trình thủy lợi ở cơ sở được thành lập tại 138 xã, phường, thị trấn. Từ đây, nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí hàng năm được giao về cho Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh và được Ban ủy nhiệm chi cho các ban quản lý công trình thủy lợi cơ sở. Và theo đó, Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh được sử dụng 37% từ nguồn kinh phí này (không quá 7% chi công tác quản lý và 30% kinh phí được giữ lại để chi đầu tư cho các công trình thủy lợi thiết yếu, cấp bách hàng năm). Đối với ban quản lý công trình thủy lợi cơ sở được cấp 63% nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí. Trong đó, chi cho công tác quản lý, điều hành không quá 30% và chi duy tu, sửa chữa thường xuyên các công trình tối thiểu 33%. Quy định này khác với trước đây, đó là nguồn kinh phí được huyện cấp về 100% cho ban quản lý công trình thủy lợi xã với định mức chi 40% cho công tác quản lý, điều hành của ban và 60% chi cho công tác duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa công trình.

Cơ chế mới này ra đời đã chấm dứt tình trạng mỗi nơi một phách trong công tác quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí ở cơ sở nhiều năm trước đó. Việc hướng dẫn rà soát đầu tư kinh phí cũng như quyết toán hồ sơ công trình được thực hiện đồng bộ từ trên xuống dưới và dứt điểm hàng năm theo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Ban Quản lý khai thác công trình  thủy lợi tỉnh và Sở Tài chính.

Đầu tư có trọng điểm

Đầu tư có trọng điểm là nhận xét chung của nhiều người dân, cán bộ ở cơ sở khi được hỏi về mô hình quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí ở tỉnh ta hiện nay. Ông Vũ Hữu Thọ, Trưởng Ban Quản lý công trình thủy lợi xã Phù Lưu (Hàm Yên) đưa chúng tôi đến thăm công trình thủy lợi đập Pác Đến, thôn Pác Cáp. Đây là công trình được đầu tư hàng tỷ đồng từ nguồn kinh phí 30% được giữ lại của Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh. Ông Thọ cho biết: “Nếu không có mô hình mới về quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí như hiện nay thì mỗi mùa mưa, bao nhiêu bao tải cát, đất đá, cây que bà con đắp đập để chặn nước sẽ bị cuốn phăng hết. Một công trình thủy lợi tiền tỷ mà đầu tư từ nguồn thủy lợi phí trước đây có lẽ chúng tôi chỉ dám mơ. Nhưng bây giờ đã thành sự thật. Chứ nếu cứ cấp 100% kinh phí cấp bù thủy lợi phí cho cấp xã như trước đây thì không biết bao giờ mới có đập kiên cố như thế”.

Được biết, trước đây, hàng năm, xã Phù Lưu được cấp trên 200 triệu đồng để chi cho công tác quản lý, duy tu, sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi, nhưng chỉ nâng cấp công trình phai Tịnh, thôn Trò là công trình duy nhất có kinh phí lớn. Còn lại hầu hết chỉ duy tu, bảo dưỡng nhỏ. Thế nhưng từ năm 2013 đến nay, với mô hình quản lý, sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí mới, Ban Quản lý công trình thủy lợi xã Phù Lưu đã đầu tư sửa chữa, nâng cấp 6 công trình thủy lợi lớn. Bây giờ, có cán bộ từ Ban Quản lý của tỉnh xuống phối hợp cùng cán bộ địa chính - thủy lợi xã xuống tận nơi hướng dẫn lập hồ sơ từ ban đầu cho đến khảo sát, kiểm tra, hướng dẫn công tác quyết toán nên mọi việc diễn ra đều trôi chảy. Từ năm 2013 đến nay, năm nào Ban lập hồ sơ quyết toán công trình và đều được thẩm tra, thông báo phê duyệt quyết toán theo đúng quy định.

Về thăm lại hồ Hoàng Tân, xã Ninh Lai (Sơn Dương) mới cảm nhận rõ những chuyển biến khi tỉnh ta thực hiện cơ chế quản lý này. Đập tràn hồ Hoàng Tân sau sự cố bị vỡ cách đây mấy năm đã được đầu tư kiên cố với kinh phí hàng chục tỷ đồng, trong đó có nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí từ Ban Quản lý các công trình thủy lợi tỉnh trên 4,2 tỷ đồng. Ông Lục Quang Lý, Trưởng Ban Quản lý công trình thủy lợi xã cho hay, với năng lực của cán bộ Ban thì những công trình tiền tỷ không thể thực hiện được. Nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí được áp dụng theo tỷ lệ như hiện nay là hợp lý. Bởi như thế mới có những công trình lớn, trọng điểm được đầu tư nhiều như hiện nay. Cũng theo ông Lý, trước đây, xã phải làm tới hai hợp đồng tưới tiêu, cấp nước đến từng hộ gia đình. Một xã có tới vài nghìn hộ thì hàng năm kinh phí chi cho văn phòng phẩm rất lớn. Nhưng hiện nay, các ban quản lý công trình thủy lợi cơ sở chỉ phải ký hợp đồng với các tổ, đội sản xuất, có danh sách các hộ dùng nước ký xác nhận, do đó đã giảm bớt thủ tục, tiền của đi khá nhiều.

Hàng năm, Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh được phê duyệt trên 47 tỷ đồng nguồn cấp bù thủy lợi phí. Chỉ từ 2013 đến năm 2015, Ban Quản lý khai thác công trình thủy lợi tỉnh đã sử dụng 30% tổng nguồn cấp bù thủy lợi phí cấp bù để sửa chữa, nâng cấp 39 công trình thiết yếu, cấp bách với số tiền đầu tư trên 42 tỷ đồng. Ngoài ra, Ban đã tiết kiệm hàng tỷ đồng để sửa chữa, nâng cấp, làm mới nhiều tuyến mương thuộc các công trình Ngòi Là và Hoàng Khai. Cũng trong giai đoạn này đã có trên 700 công trình thủy lợi nhỏ được duy tu, sửa chữa nâng cấp, hàng chục km kênh mương được kiên cố hóa bởi các ban quản lý công trình thủy lợi cơ sở. 

Với mô hình quản lý, sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí hiện nay, nguồn kinh phí Nhà nước cấp bù thủy lợi phí đã được đầu tư có trọng điểm và được sử dụng đúng mục đích. Tỉnh ta là một trong 3 tỉnh của cả nước đang áp dụng mô hình. Tuy nhiên, từ khi áp dụng, đã không còn những kiến nghị “nóng” về quản lý, sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí. Điều đó đã cho thấy những quyết định của lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền tỉnh là phù hợp với thực tiễn để nguồn vốn từ Trung ương cấp “xuôi chiều” về với cơ sở như hôm nay.

Phóng sự: Thủy Châu

Tin cùng chuyên mục