Đại tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy mưu lược

TQĐT - Cuốn sách “Đại tướng Văn Tiến Dũng - vị tướng kiên cường mưu lược” của nhiều tác giả do Nhà xuất bản Văn học phát hành là tập hợp những bài viết về vị tướng đáng kính của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Văn Tiến Dũng (bí danh là Lê Hoài), sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, ông phải theo cha ra Hà Nội kiếm sống. Năm 15 tuổi, cha ông đột ngột qua đời, ông phải bỏ dở việc học để ở nhà trợ giúp công việc may gia công thuê cho gia đình bác ruột. Sau đó, ông xin vào làm việc cho xưởng dệt Cự Chung. Chính từ đây, ông đã chứng kiến và cảm nhận được cảnh áp bức của chủ đối với thợ và những nghịch cảnh trong xã hội mà người dân nghèo phải chịu. Ông đã tham gia phong trào Hội Ái hữu thợ dệt và các phong trào đấu tranh khác của công nhân.

Từ việc tham gia các cuộc đấu tranh, ông dần trưởng thành về nhận thức và trở thành người chiến sỹ cộng sản kiên trung. Mới hơn 20 tuổi, ông bị đày ở Sơn La, bị tra tấn, đánh đập vô cùng dã man ở các nhà tù Hỏa Lò, Bắc Ninh... Nhưng ba lần bị bắt, ông đều vượt ngục, tìm về với đồng chí, đồng đội, với Đảng, thậm chí bị kết án tử hình không có mặt. Trong đó, lần vượt ngục cuối cùng ở nhà tù Sơn La ông đã lâm bệnh nặng, bởi những đòn roi, tra tấn man rợ của kẻ thù, cái đói, cái rét hành hạ. Tuy vậy, bằng nghị lực và ý chí kiên cường của người chiến sỹ cách mạng, ông đã vượt qua và tiếp tục chiến đấu, cống hiến cho Đảng, cho Tổ quốc. 

Cuối năm 1949, đang làm Cục trưởng Cục Chính trị Bộ Quốc phòng (nay là Tổng cục chính trị), ông được Bác Hồ và Trung ương Đảng cử về làm Chính ủy Chiến khu 2. Đến năm 1951, ông được Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ thành lập Đại đoàn 320 - Đại đoàn đồng bằng, làm đại đoàn Trưởng kiêm Chính ủy. Cuối năm 1953, ông được giao nhiệm vụ Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch, trận đánh quan trọng như: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên, đặc biệt là Chiến dịch Tây Nguyên. Thắng lợi của chiến dịch giúp quân ta thừa thắng xốc tới làm nên Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Với những đóng góp của mình, năm 1948 ông được phong Thiếu tướng, đến năm 1959 được phong Thượng tướng (vượt cấp) và đến năm 1974 ông được phong Quân hàm Đại tướng.

Trong quân đội, ông là vị tướng kiên cường, mưu lược, nhưng trong cuộc sống ông là người đồng chí, đồng đội nhân hậu, tình nghĩa. Ở cương vị cao nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam trong 25 năm, nhưng ông luôn quan tâm, chăm lo đến những chiến sỹ cấp dưới. Ông còn là người luôn trăn trở, tri ân đối với những người dân bình thường đã giúp đỡ, che giấu ông trong những ngày ông tham gia cách mạng. Chính vì vậy, hình ảnh của ông mãi ở trong lòng nhân dân. 

Huyền Linh

Tin cùng chuyên mục