Mê hoặc kèn bầu

Trong hệ thống Nhã nhạc cung đình Huế, tiếng kèn bầu thường được ví như “giọt lệ trên má nàng cung nữ bị giam cầm nơi lãnh cung” vừa mỹ lệ, vừa ai oán, buồn thảm.

Nghệ nhân Lữ Hữu Thi thổi kèn bầu

Cung bậc não nề, ai oán

Kèn bầu là một nhạc cụ độc đáo không thể thiếu trong Nhã nhạc cung đình Huế. Trong dàn nhạc lễ dân gian (tế làng, lễ tang) nó cũng giữ một vị trí rất quan trọng. Theo GS Trần Văn Khê, âm nhạc Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế do vị trí địa- chính trị, từng trải qua một quá trình giao lưu văn hóa Chăm lâu dài trong lịch sử nên Nhã nhạc đã nhuộm màu “Chàm”.

Tiếng kèn - một nhạc cụ thính phòng trong Nhã nhạc Huế vì thế cũng mang âm sắc sâu lắng, u hoài, tương đồng với kèn saranai của người Chăm. Với một số người nước ngoài đã có dịp thưởng thức các nghệ nhân Huế trình diễn Nhã nhạc cung đình, họ cho biết rất ấn tượng với cây kèn bầu, một loại nhạc cụ nhỏ bé nhưng hết sức quan trọng. Kèn bầu thường xuyên được xếp “hàng đầu” trong dàn tiểu nhạc và đại nhạc cung đình. Trong các dịp trình diễn tại các lễ hội dân gian, tế làng, đám ma, dù ban nhạc lớn hay nhỏ, thậm chí chỉ 3 - 4 người, vẫn có cây kèn bầu diễn tấu cùng với trống, đàn nhị.

Theo lão nghệ nhân Lữ Hữu Thi, kèn bầu trong Nhã nhạc có rất nhiều kích cỡ khác nhau, có thể tạm chia làm 3 loại: loại âm trầm, loại âm cao và loại âm trung là loại phổ biến nhất. Thiết kế cây kèn bầu gồm 3 phần chính: dăm và vong kèn là loại dăm kép, làm bằng ống sậy mềm (hoặc có thể tiện bằng gỗ quý, ngà voi), phần trên vót mỏng, một đầu bóp bẹp, cuối dăm tròn để cắm vào đầu một cái thắng (gọi là vong). Dăm kèn là bộ phận quan trọng nhất của cây kèn, nếu như dăm không tốt sẽ cho âm sắc kém. Cái thắng là một ống bằng kim loại nối liền giữa dăm kèn với thân kèn. Thân kèn (có nơi gọi là suốt kèn) là một ống rỗng lòng, dài từ 25 - 30cm, đường kính 2 đầu ống khác nhau vì cấu tạo hình ống thuôn to dần. Trên lưng ống đục 7 lỗ bấm và 1 lỗ nằm dưới thân ống, gần đầu ống (do ngón cái đảm nhiệm). Sử dụng các lỗ bấm của kèn có thể phát ra các âm theo thang âm 7 cung (nên miền Bắc gọi là kèn bóp). Loa kèn (hay bát kèn) đều được làm bằng vỏ bầu khô chuốt phẳng, đánh bóng đen láng (nên người Huế mới gọi tên là kèn bầu).


Nhóm kèn Nhã nhạc 

Mỗi lần trình diễn Nhã nhạc cung đình (đại nhạc và tiểu nhạc) thường có đội kèn bầu từ 3 - 5 nhạc công. Đây là nhạc cụ quan trọng nhất để lĩnh xướng dàn nhạc. Tháng Bảy tế làng, hội lễ cũng mời 1 - 2 nhạc công thổi kèn hòa tấu cùng trống, đàn nhị. Đặc biệt trong lễ tang ở Thừa Thiên- Huế, tiếng kèn bầu réo rắt, thê lương hòa vào tiếng đàn nhị (miền Bắc chỉ dùng đàn nhị) nghe rất ai oán, não nề. Do ấn tượng về tiếng kèn bầu quá buồn thảm, các nhạc công cho biết: “Bình thường, không phải lúc nào chúng tôi cũng đem kèn ra thổi. Từ trước đến nay, trong dàn nhạc ca Huế của các du thuyền trên sông Hương, do không gian vui vẻ, đầm ấm, nên không bao giờ sử dụng kèn bầu, mà thay thế bằng đàn nhị”.

Hiếm hoi nghề kèn

Nổi bật trong các bài bản cổ Nhã nhạc là hai bài kèn: “Đăng đàn cung” và “Nhã nhạc cung ai”. Bài “Đăng đàn cung” rất hùng tráng, thường dùng trong lễ tế làng, lễ nghinh rước thần. Tiếng kèn bầu nhịp nhàng, hùng tráng hòa vào tiếng trống lớn, trống bé, điệp khúc mạnh mẽ. Bài “Nhã nhạc cung ai” trái lại rất buồn, âm điệu não nề, chỉ thổi trong lễ tang. Ở Thừa Thiên - Huế, hiện nay chỉ còn giữ được khoảng 20 bài kèn của hệ thống nhạc lễ cung đình. Theo nghệ nhân Trần Thảo (con trai của cố nghệ nhân Nhã nhạc Trần Kích) thì bài kèn “Nhã nhạc cung ai” giờ chỉ còn một mình nghệ nhân Trương Khiếm biết. Lão nghệ nhân này đã 88 tuổi, cùng thế hệ với các cố nghệ nhân Trần Kích, Nguyễn Kế, Lữ Hữu Thi…

Nghệ nhân “kèn” số một Trương Khiếm hiện sống ẩn dật ở vùng duyên hải Thừa Thiên - Huế (xã Phú Diên, Phú Vang), xa thành phố Huế đến 30km. Ông Khiếm được cha truyền dạy Nhã nhạc rất căn bản, nghiêm túc. Cha ông là truyền nhân của một nhạc công thái giám trong cung đình thời Nguyễn. Hiện nay, biết danh tiếng ông Khiếm, ở làng xã nào tổ chức trai đàn chẩn tế, ma chay, tế làng, lễ hội lớn, đều mời ông chủ trì cho bằng được. Ông Khiếm đi nhiều, nên biết rõ tất cả các nghi lễ, các bài kinh, kệ, tụng niệm để chỉ huy ban nhạc. Nói về bài kèn “Nhã nhạc cung ai” hiện nay chỉ một mình ông thành thạo, ông Khiếm cho biết: “Bản này rất buồn, thể hiện tiếng khóc than ai oán trong chốn cung đình. Thổi “Nhã nhạc cung ai” phải sử dụng cây kèn “đại”, lớn hơn cây kèn bình thường, âm thanh trầm buồn, lắng đọng”.

Theo nghệ nhân Trương Khiếm, muốn học thổi kèn bầu ở tầm bình thường phải mất khoảng 2 - 3 năm, nhưng muốn thổi được cả 3 loại kèn (đại, trung, tiểu) phải tập luyện đến 10 năm. Tập luyện vất vả, nhưng khi trình diễn “phùng mang, trợn mắt” không “ăn ảnh” như các nhạc công khác, nên từ xưa đến nay, trong Nhã nhạc (và nhất là ca Huế), nữ nhạc công chỉ thổi sáo, thổi tiêu, không ai thổi kèn bầu.


Nghệ nhân Trần Kích nhận huy chương do đại sứ Pháp trao tặng 

Ở Thừa Thiên - Huế trước đây có nghệ nhân Trần Kích là một trong những cây “đại thụ” của Nhã nhạc. Sinh thời, nghệ nhân Trần Kích rất đa tài, ông chơi giỏi các loại nhạc cụ: nhị, nguyệt, tỳ, bầu, sáo..., thành thạo cả đại nhạc, tiểu nhạc, nhạc tuồng Huế, nhạc Phật, nhạc múa cung đình, nhạc ca Huế. Ông đã được Pháp trao tặng huy chương Hiệp sĩ Văn học nghệ thuật. GS Trần Văn Khê trong một lần đi xem ông Trần Kích biểu diễn (tại Cung Văn hóa Paris) đã xúc động nói: “Tôi đã đi nhiều nơi, đã xem nhiều nghệ sĩ biểu diễn nhưng cái thần, cái hồn của các nhạc cụ khi được anh biểu diễn thì nó như được nâng lên một tầm cao mới của nghệ thuật và tất cả âm thanh ấy không thể lẫn vào đâu được”.

Ngoài nghệ nhân Trương Khiếm, hiện nay, trong Nhã nhạc, ít người theo học thổi kèn bầu đến nơi đến chốn. Các bài bản cổ vì thế sẽ có nguy cơ thất truyền, nếu các nghệ nhân lớn tuổi lần lượt qua đời.

Theo giaoducthoidai.vn

Tin cùng chuyên mục