Tiếng việt | English

Đền Thượng

TQĐT - Đền Thượng thuộc xóm 14, xã Tràng Đà, thành phố Tuyên Quang.

Đền Thượng đã từng có các tên gọi: Đền Sâm Sơn (hay đền Tình Húc). Đây là tên gọi dưới thời Nguyễn, vì lúc đó, núi Dùm được gọi là núi Sâm Sơn thuộc thôn Viên Lâm, xã Tình Húc, tổng Bình Ca, huyện Hàm Yên, phủ Yên Bình (Tuyên Quang). Đền núi Dùm, vì ngôi đền tựa lưng vào núi Dùm, quay mặt ra sông Lô. Tên núi Dùm còn được ghi trên cổng đền hiện nay.

Đền Thượng là tên gọi dưới thời Hậu Lê, vì lúc bấy giờ có hai đền cùng được xây dựng bên bờ tả và bờ hữu sông Lô. Trong nhân dân còn lưu truyền câu: “Thượng thác Ghềnh, Hạ cầu Chả” - nghĩa là trên thác Ghềnh có đền Thượng, phía dưới gần cầu Chả có đền Hạ. Tên đền Thượng được nhân dân gọi đến ngày nay. Đền Thượng lưng tựa vào núi Dùm, quay mặt ra sông Lô, thuận đường thủy, bộ, phong cảnh sơn thủy hữu tình, xung quanh đền có nhiều cây cổ thụ.

Từ bến xe ô tô Tuyên Quang, theo đường Bình Thuận qua cầu Nông Tiến khoảng 500 m, rẽ trái theo Quốc lộ 2C mới (đường ĐT185 cũ) Nông Tiến - Tân Long khoảng 1 km là thấy ngôi đền tọa lạc bên trái ngay tả ngạn sông Lô.

Đền Thượng là nơi thờ Mẫu, nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc Tuyên Quang và du khách thập phương. Truyền thuyết về vị Mẫu thần thờ tại đền Thượng được nhiều tài liệu nhắc đến cả trong chính sử và trong tư liệu, văn bia còn lưu giữ tại đền. Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Tương truyền đời trước có hai công chúa là Ngọc Lân (tức Mai Hoa công chúa) và Phương Dung (tức Quỳnh Hoa công chúa) theo xa giá đi xem xét các địa phương, để thuyền ở bờ sông, đến đêm trời nổi cơn mưa gió, hai công chúa vụt bay lên trời, người ta cho là linh dị, nên lập đền thờ. Đền thờ Phương Dung công chúa ở hữu ngạn sông Lô, thuộc địa phận xã Ỷ La (đền Hạ ngày nay). Đền thờ Ngọc Lân công chúa ở phía tả ngạn sông Lô, thuộc xã Tình Húc (tức đền Thượng ngày nay)”. Cũng có những tư liệu và chính sử ghi chép khác nhau về lai lịch, nguồn gốc của thần Mẫu được thờ tại đền Thượng.

Đền Thượng là một ngôi đền cổ có từ lâu đời (sắc phong sớm nhất vào năm 1743) có niên đại cùng thời với đền Hạ - đền thờ hai nữ thần có quan hệ mật thiết với nhau. Khi tín ngưỡng thờ Mẫu trong dân gian phát triển, nhân dân đã đưa Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Thoải cùng hệ thống tượng Ngọc Hoàng, Long Vương, quan Hoàng vào phối thờ.

Trong năm, tại đền Thượng thường tổ chức các ngày lễ lớn như: Lễ khai bút vào ngày 2 tháng Giêng âm lịch (ngày mở cửa đền); Lễ Thượng nguyên vào ngày 10 tháng Giêng âm lịch (lễ giải hạn cho dân); Lễ cầu mưa từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 4 âm lịch; Lễ mừng sinh nhật các Mẫu và các vị quan Hoàng vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9, 10. Đặc biệt, trước đây trong tháng 2 và tháng 7 âm lịch có hội rước Mẫu. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm và là dịp để nhân dân thể hiện các nghi thức diễn xướng. Hiện nay, lễ rước Mẫu đã được khôi phục và được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch - rước Mẫu từ đền Ỷ La và đền Thượng về nhập cung tại đền Hạ (hai chị em công chúa gặp nhau) và ngày 16 tháng Giêng làm lễ hoàn cung.

Hiện Bảo tàng tỉnh đang lập hồ sơ lễ rước Mẫu đền Thượng và đền Ỷ La để trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh sách là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. 

Đền Thượng là di tích rất có giá trị trong việc nghiên cứu về văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng và là địa điểm hấp dẫn thu hút khách thập phương về chiêm bái sự linh nghiệm của đền. năm 2015, đền Thượng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Thanh Tùng (Theo tư liệu Bảo tàng tỉnh)

Tin cùng chuyên mục