Tuyên Quang thời Nguyễn (1802-1884)

TQĐT - Về kinh tế 

(Tiếp theo kỳ trước)

Tuyên Quang là vùng đất có nhiều khoáng sản quý. Việc khai mỏ và quản lý đóng, mở các mỏ vẫn được Nhà nước chú ý. Nhà Nguyễn tuy có quan tâm đến việc khai thác khoáng sản, đặc biệt là ở các địa phương phía Bắc, trong đó có Tuyên Quang, nhưng việc khai mỏ cũng như quản lý các trường mỏ còn lỏng lẻo và không đem lại hiệu quả cao. Dưới đây khái quát về chủ trương, chính sách và biện pháp của nhà Nguyễn đối với công cuộc khai mỏ trên đất Tuyên Quang. 

Đầu triều Nguyễn, do còn lo xếp đặt triều chính, xây dựng bộ máy hành chính từ Trung ương xuống đến các địa phương nên Gia Long ít quan tâm đến việc khai mỏ. Một nguyên nhân khác là do không có người khai thác nên nhiều trường mỏ phải đóng cửa và bỏ lệ thuế khoáng sản. 

Sang thời Minh Mệnh, tình hình khai mỏ vẫn không được tiến triển. Năm 1820, lấy lý do là chủ mỏ và phu khoán xiêu tán, quan trấn Bắc Thành tâu xin, Minh Mệnh bèn miễn lệ thuế cho 7 mỏ vàng, đồng, kẽm, chì và diêm tiêu ở Bắc Thành, trong đó có mỏ chì Phúc Ninh ở Tuyên Quang.
 Việc khai mỏ trở lại từ năm 1831 với sự kiện nhà Nguyễn cho khai mỏ diêm tiêu ở Nà Ngõa, mỏ chì ở làng Nho, huyện Đồng Hỷ, trấn Thái Nguyên. 

Năm 1833, tại các tỉnh biên giới diễn ra cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân khiến cho nhiều hoạt động kinh tế ở Tuyên Quang bị ngừng trệ, trong đó có nghề khai mỏ. 

Từ năm 1802 đến năm 1851, tổng số mỏ từng được khai thác là 124 mỏ. Trong đó, các mỏ tập trung hầu hết ở các tỉnh Bắc Bộ (118 mỏ), nhiều nhất là tỉnh Thái Nguyên (38 mỏ), tiếp đến là Tuyên Quang (21 mỏ), Hưng Hóa (17 mỏ), Lạng Sơn (16 mỏ). 

Phương thức khai thác mỏ khá đa dạng: Do Nhà nước trực tiếp quản lý, do Hoa kiều, do người Việt quản lý, do thổ tù miền núi lĩnh trưng. 

Ở Tuyên Quang có mỏ Tiên Kiều thuộc quyền quản lý trực tiếp của Nhà nước. Trước đây, mỏ do tư nhân lĩnh trưng hằng năm nộp thuế 6 lạng vàng cốm. Năm 1831, chủ mỏ không chịu bán thêm vàng cho Nhà nước nên không được khai thác nữa. 

Năm 1832, triều đình phái người đến điều động thổ binh và thuê Hoa kiều, người địa phương khai thác. Binh lính được trả lương gấp đôi. Còn người địa phương và Hoa kiều gọi chung là sa đinh trả tiền công mỗi ngày 2 tiền 20 đồng. Về sau, triều đình có quy định lại cứ trong 15 ngày, người nào lấy được 1 đồng cân 3 phân đến 1 đồng cân 9 phân thì được trả tiền công 3 quan, nếu không lấy đủ 1 đồng cân thì lần sau phải bù, nếu lấy quá 2 đồng cân thì được thưởng. Không rõ số nhân công và thời gian khai thác là bao nhiêu, nhưng kết quả trong năm 1832 chỉ lấy được 6 lạng 4 đồng cân vàng cốm. 

Vũ Bé (theo các tư liệu lịch sử)

Tin cùng chuyên mục