Tiếng việt | English

Thành tựu nhiệm kỳ 2015 - 2020: Dấu ấn phát triển nông nghiệp hàng hóa

- Trong 5 năm (2015 - 2020), nông nghiệp Tuyên Quang đã có bước chuyển nhanh, mạnh theo hướng hàng hóa. Trong đó, ưu tiên phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị, phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu...

Giá trị sản xuất tăng đột phá

Ông Nguyễn Văn Việt, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, trong 5 năm qua, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản tăng bình quân 4,17%/năm, cao hơn bình quân chung cả nước (cả nước khoảng 3%). Trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đem lại hiệu quả và giá trị gia tăng cao, như vùng cam 8.690 ha, vùng chè 8.588 ha, vùng bưởi 4.600 ha, vùng lạc 4.300 ha. Những vùng sản xuất này đều đứng tốp đầu các tỉnh miền núi phía Bắc. Đặc biệt, theo Giám đốc Sở Nông nghiệp Nguyễn Văn Việt, giá trị sản xuất bình quân trên ha tăng đột phá, gấp 1,4 lần so năm 2015.

Có vùng sản xuất tập trung, Tuyên Quang không dừng lại ở việc chỉ đứng đầu ở diện tích, năng suất, sản lượng mà không ngừng xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh cho nông sản. Toàn tỉnh có trên 1.690 ha cây trồng sản xuất nông nghiệp tốt (trong đó trên 88 ha sản xuất hữu cơ, 870 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và trên 730 ha sản xuất nông nghiệp bền vững); trên 15.000 m3 lồng nuôi cá đạt tiêu chuẩn VietGAP. Hết tháng 6 - 2020, đã có trên 50 nhãn hiệu nông sản hàng hóa; các thương hiệu nổi tiếng như: Chè Bát Tiên Mỹ Bằng, mật ong Tuyên Quang được “Tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu năm 2017”; cá lăng, chè đặc sản Vĩnh Tân được bình chọn danh hiệu “Thương hiệu Vàng nông nghiệp Việt Nam 2017”; bưởi Xuân Vân được Viện Sở hữu Trí tuệ Quốc tế xếp đứng TOP 10 Thương hiệu - Nhãn hiệu nổi tiếng năm 2018. Nhiều nông sản hàng hóa tiếp tục khẳng định thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu.


Vùng chè hàng hóa của phường Mỹ Lâm (TP Tuyên Quang) rộng trên 50 ha, năng suất đạt 30 tấn/ha.
Ảnh: Nam Thành

Quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng quốc tế FSC phục vụ chế biến xuất khẩu gỗ rừng trồng cao nhất toàn quốc. Tuyên Quang hiện có 131.784 ha rừng trồng sản xuất gỗ nguyên liệu, rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC là 25.366 ha (cao nhất cả nước). Trung bình mỗi năm các địa phương trong tỉnh trồng trên 11.000 ha rừng, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng trên 900.000 m3/năm, là tỉnh có sản lượng gỗ lớn nhất vùng Trung du miền núi phía Bắc. Giai đoạn 2015 - 2020, tỉnh đã thu hút 3 nhà máy chế biến gỗ: Cụm công nghiệp chế biến gỗ công suất 150.000 m3/năm tại xã Thắng Quân; Nhà máy sản xuất viên gỗ nén công suất 3.000 tấn/năm tại xã Hoàng Khai (Yên Sơn); Nhà máy chế biến gỗ Chiêm Hóa công suất 50.000 m3/năm. Qua đó, nâng tổng số  nhà máy chế biến gỗ, bột giấy, tiêu thụ gỗ nguyên liệu trên địa bàn lên 8 nhà máy, công suất 1,3 triệu m3/năm.

Chăn nuôi trâu thịt hàng hóa theo chuỗi liên kết đang phát triển khá tốt tại một số xã huyện Chiêm Hóa, Yên Sơn, hàng năm liên kết chăn nuôi khoảng trên 1.000 con trâu thịt, người chăn nuôi thu lãi từ 4 - 5 triệu/con. Ứng dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo cho trâu đang được thực hiện tại nhiều xã của huyện Chiêm Hóa, Yên Sơn, Sơn Dương, bước đầu mang lại kết quả khả quan, được nhiều hộ chăn nuôi thực hiện. Số nghé đẻ ra trên 300 con, trọng lượng sơ sinh lớn hơn giống trâu địa phương trên 10%.

Bài học kinh nghiệm

Mặc dù kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn đã cơ bản hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, tuy nhiên, theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Văn Việt, nền nông nghiệp của tỉnh vẫn còn có hạn chế. Nhiều chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch và cần có lộ trình, kế hoạch sát sao hơn, cụ thể hơn trong giai đoạn tiếp theo, như năng suất gỗ rừng trồng bình quân đạt 82% kế hoạch; diện tích mía nguyên liệu đạt 29,3% kế hoạch, năng suất đạt 87,1% kế hoạch; tốc độ tăng đàn hàng năm đàn trâu -1,4%/năm (kế hoạch tăng 2%/năm), đàn lợn 1%/năm (kế hoạch tăng 6%/năm).


Nông dân tổ 7, phường Ỷ La, TP Tuyên Quang thu hoạch lúa.  Ảnh: Cảnh Trực

Nông sản hàng hóa được sản xuất theo các tiêu chuẩn được công nhận còn ít. Đối với cây chè, diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP chỉ chiếm 0,8% tổng diện tích; tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững chỉ chiếm 8,1% tổng diện tích; tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ đối với cây cam cũng chỉ chiếm 0,34% tổng diện tích.

Hạ tầng, năng lực ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất trên địa bàn tỉnh còn thấp. Đáng kể nhất, đến thời điểm này, Tuyên Quang vẫn chưa có sản phẩm có chỉ dẫn địa lý.

Phát triển hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản còn chậm, hầu hết là tự sản tự tiêu trong nước; tỷ trọng giá trị sản phẩm được sản xuất dưới các hình thức hợp tác và liên kết chỉ chiếm 9,33% tổng giá trị sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Năng lực các hợp tác xã nông, lâm nghiệp thủy sản còn yếu; số HTX có hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp chỉ chiếm 26,2% tổng số HTX; nhiều HTX hoạt động hình thức, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Theo thống kê của ngành nông nghiệp, hiện còn đến 50% HTX sản xuất kinh doanh không có lãi. Một hạn chế nữa, theo ông Việt, là việc triển khai thực hiện một số chính sách còn chậm, chưa có nhiều đối tượng tham gia hưởng lợi, phát huy hiệu quả chưa cao như: Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ.

Trong giai đoạn tiếp theo, để sản xuất nông nghiệp đi theo đúng lộ trình là nâng cao giá trị gia tăng, theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Văn Việt, ngoài hành động của ngành nông nghiệp, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các đơn vị để xây dựng các quy hoạch, chương trình, kế hoạch, xác định những khâu đột phá và đề ra các giải pháp thực hiện đồng bộ. Xây dựng chương trình, kế hoạch và đề ra lộ trình, giải pháp cụ thể cho từng chỉ tiêu phát triển để tập trung nguồn lực thực hiện. Huy động tối đa nguồn lực để tập trung phát triển các cây trồng, vật nuôi có lợi thế gắn với các giải pháp thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy, cơ sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm bền vững. Đồng thời, không ngừng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị hàng hóa, chú trọng công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm để chuyển dịch từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ.

Vào năm cuối cùng của nhiệm kỳ, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức của dịch bệnh, diễn biến thời tiết. Điều này được nhận định sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp trong những năm tiếp theo. Ngoài những giải pháp đẩy mạnh năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, ngành nông nghiệp cũng đã xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể, ứng phó tốt nhất với biến đổi khí hậu, để sản xuất nông nghiệp của tỉnh không chỉ theo kịp với cuộc cách mạng 4.0, mà còn đạt được giá trị bền vững nhất, hiệu quả nhất!             

 Trần Liên

Tin cùng chuyên mục