Tạo thu nhập ổn định từ rừng
Với tỷ lệ che phủ trên 62%, đứng thứ 3 cả nước, rừng là một trong những nguồn lực quan trọng của Tuyên Quang. Hiện nay, bài toán đặt ra không chỉ là giữ diện tích rừng hiện có, mà phải tạo được cơ chế để người dân sống gần rừng có thu nhập từ rừng, qua đó duy trì trách nhiệm bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng.
Nền tảng giữ rừng
Ở Tuyên Quang, bảo vệ rừng đang được thực hiện từ cơ sở với sự tham gia của chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và lực lượng kiểm lâm. Các lực lượng có vai trò khác nhau nhưng bổ trợ trực tiếp cho nhau.
![]() |
| Những khu rừng tự nhiên được người dân bảo vệ nghiêm ngặt. |
Tại thôn Nặm Dầu, xã Linh Hồ, tổ tự quản bảo vệ rừng gồm 25 thành viên đang quản lý hơn 200 ha rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn và rừng tự nhiên. Trước mỗi chuyến tuần tra, các thành viên họp, xác định khu vực cần kiểm tra, phối hợp với kiểm lâm địa bàn đánh giá nguy cơ cháy rừng, kịp thời ngăn chặn tình trạng phá rừng làm nương. Người dân vì thế không chỉ là đối tượng được tuyên truyền, vận động, mà trực tiếp tham gia quản lý phần rừng gắn với địa bàn sinh sống.
Tại rừng đặc dụng Phong Quang, hơn 8.300 ha rừng trải trên địa bàn các xã Thuận Hòa, Minh Tân, Thanh Thủy và một phần phường Hà Giang 2 cũng được bảo vệ với sự tham gia của các tổ bảo vệ rừng. Riêng vùng lõi tại xã Minh Tân có hơn 2.000 ha được bảo vệ; các tổ từ 6-8 thành viên thay phiên tuần tra, đồng thời tuyên truyền cho người dân về giá trị đa dạng sinh học của rừng.
Cùng với cộng đồng, lực lượng kiểm lâm thực hiện những phần việc đòi hỏi chuyên môn và thẩm quyền quản lý: Kiểm tra hiện trạng rừng, hướng dẫn phòng cháy, chữa cháy, tuyên truyền pháp luật, phát hiện và xử lý các hành vi xâm hại tài nguyên. Tại các khu rừng đặc dụng, yêu cầu này càng cao, đòi hỏi lực lượng chuyên trách thường xuyên bám địa bàn.
Sự phối hợp ấy tạo ra mạng lưới bảo vệ rừng ngay từ cơ sở. Tuy nhiên, chỉ dựa vào trách nhiệm là chưa đủ. Nếu người giữ rừng không có nguồn thu ổn định từ rừng, việc duy trì trách nhiệm lâu dài sẽ khó khăn, nhất là tại những địa bàn mà đời sống người dân phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng.
Khi giữ rừng tạo ra thu nhập
Điểm quan trọng trong cách tiếp cận của Tuyên Quang là gắn bảo vệ rừng với lợi ích kinh tế của người dân thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
![]() |
| Người dân có thu nhập từ rừng cao su và tiền dịch vụ môi trường rừng. |
Nhiều năm qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, đồng thời huy động các nguồn lực để nâng cao chất lượng vốn rừng. Khoản tiền này được chi trả cho các chủ rừng, tạo thêm nguồn thu gắn với trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng.
Khi có thu nhập từ việc bảo vệ rừng, người dân có thêm động lực thực hiện các quy định ngay trên diện tích mình quản lý. Giữ rừng khi đó không chỉ là trách nhiệm được giao mà trở thành công việc gắn với lợi ích trực tiếp của hộ gia đình.
Cơ chế này tạo thành một mối liên hệ rõ ràng: Rừng tạo ra giá trị; giá trị được chuyển một phần thành thu nhập cho người dân; thu nhập tạo động lực bảo vệ rừng; rừng tiếp tục cung cấp các giá trị môi trường và kinh tế. Khi tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả đúng, đủ, kịp thời, người dân có điều kiện coi việc giữ rừng là một phần sinh kế.
Từ nền tảng này, yêu cầu tiếp theo không chỉ là giữ diện tích rừng, mà nâng chất lượng rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững. Muốn vậy, các yếu tố phải được duy trì đồng bộ: người dân thực hiện trách nhiệm trên diện tích rừng được giao; kiểm lâm bảo đảm giám sát chuyên môn; nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng đến đúng đối tượng.
Khi trách nhiệm bảo vệ rừng gắn với lợi ích kinh tế, người dân có thêm quyết tâm giữ rừng; khi lực lượng chuyên môn làm tốt công tác giám sát, việc bảo vệ được thực hiện đúng quy định; và khi nguồn chi trả đến đúng người, cơ chế tạo động lực mới có thể vận hành ổn định… Đó là hướng đi để rừng Tuyên Quang không chỉ được giữ về diện tích mà còn tạo ra nguồn thu lâu dài cho những hộ dân đang sống dựa vào rừng.
Tiến Chiến












Ý kiến bạn đọc