Khúc tráng ca bất tử
Tháng 7, bầu trời biên giới Tuyên Quang xanh ngắt một màu. Từ ngã ba Thanh Thủy nhìn lên dải Tây Côn Lĩnh, những rặng núi đá vôi sừng sững, hiên ngang vươn mình trong sương sớm. Cảnh sắc thanh bình, tươi đẹp đến nao lòng ấy khiến những người lần đầu đặt chân đến khó có thể hình dung rằng, nơi đây từng là một “chảo lửa” khốc liệt bậc nhất. Vị Xuyên - cái tên đọng lại trong lịch sử dân tộc không chỉ là một tọa độ địa lý, mà là một tượng đài bằng máu, một khúc tráng ca bất tử về lòng yêu nước, sự hy sinh và khát vọng hòa bình.
Ký ức từ "Lò vôi thế kỷ"
Dòng thời gian về những năm tháng từ 1984 đến 1989, Mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) là tâm điểm của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Kẻ thù đã tập trung một lực lượng quân sự khổng lồ với dã tâm lấn chiếm vùng biên giới Thanh Thủy. Trong suốt những năm tháng ấy, dải núi đồi Vị Xuyên nham nhở vết đạn, bầu trời không ngày nào ngớt tiếng gầm rít của pháo bầy.
Những cựu binh của Sư đoàn 356, 313, 314, 312... mỗi khi họp mặt vẫn không thể nào quên những cái tên đã đi vào lịch sử bằng máu: Cao điểm 1509, 772, 685, 468, ngã ba Thanh Thủy, Đồi Đài, Đồi Cô Ích, Thác Gọi hồn, Thung lũng Tử thần... Sự khốc liệt của cuộc chiến hiện rõ qua từng biệt danh mà những người lính đã đặt cho mảnh đất này.
![]() |
| Những người lính già và ký ức không quên trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. |
Điển hình nhất là Cao điểm 685 - nơi được mệnh danh là "Lò vôi thế kỷ". Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng vạn quả đạn pháo của địch đã dội xuống một diện tích chật hẹp. Đá núi xám xịt bị đạn pháo băm vằm, cày xới, nung chảy rồi vỡ vụn, trắng xóa như lò nung vôi khổng lồ. Không một nhành cây, ngọn cỏ nào có thể sống sót sau những trận mưa pháo dồn dập. Đất đá trộn lẫn máu xương.
Những chiến sĩ của ta đã kiên cường bám trụ trong những chiến hào chật hẹp, thiếu nước uống, thiếu lương thực, và ranh giới giữa sự sống - cái chết chỉ như một sợi chỉ. Chiến tranh quá ác liệt, bom đạn không dứt khiến rất nhiều chiến sĩ hy sinh nhưng không được đưa về tuyến sau. Có người vẫn nằm lại chiến hào như lúc xung phong, có người nơi vách đá, cũng có nhiều người khác nằm chung trong một hang đá đã sập.
Thượng tá Nguyễn Hữu Tiệp - Phó đội trưởng Đội tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang nhễ nhại mồ hôi, thỉnh thoảng lại nhắc nhở anh em "các đồng chí đào nghiêng cái cuốc ra!". Theo thượng tá Tiệp, mỗi tấc đất, hốc đá ở đây đều có máu xương của các anh. Mỗi nhát cuốc phải thật nhẹ vì rất có thể dưới mỗi tấc đất đá ấy có đồng đội còn nằm lại.
Lời thề tạc vào đá núi
Điều làm nên sự bất tử của Vị Xuyên không chỉ là địa hình hiểm trở hay hỏa lực ác liệt, mà chính là ý chí sắt đá, tinh thần xả thân vì nước của hàng vạn thanh niên tuổi đôi mươi. Họ đến từ mọi miền quê: Hà Nội, Vĩnh Phú, Yên Bái, Tuyên Quang, Nghệ Tĩnh... Mang theo nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ gửi lại phía sau giảng đường, nương lúa, và cả những mối tình dở dang để bước vào trận tuyến.
Trên Cao điểm 468 ngày nay, bia tưởng niệm khắc ghi một câu nói đã trở thành châm ngôn sống, thành lời thề bất tử của người lính Vị Xuyên: "Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử". Đó là lời thề được Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Liệt sĩ Nguyễn Viết Ninh, quê Phú Thọ khắc lên báng súng bằng lưỡi lê trong những thời khắc sinh tử nhất của trận đánh bảo vệ điểm tựa. Dù bị thương nhiều lần, anh vẫn không rời trận địa, vừa chiến đấu vừa động viên đồng đội, cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.
![]() |
| Trường THCS Bình Thuận tổ chức cho các em học sinh đến thăm Di tích Cao điểm 468. |
Bí thư Chi bộ thôn Giang Nam (xã Thanh Thuỷ), Đặng Văn Si kể, Cao điểm 468 đến nay vẫn mang những câu chuyện đau lòng bởi bom đạn. Anh bảo, ở thôn có 2 người chết và 14 người mang thương tật suốt đời vì bom mìn. Những cái tên như ông Bồn Văn Hòn, anh Triệu Văn Nguyên đã trở thành những nhân chứng sống cho sự tàn khốc của thời hậu chiến. Trong đó, trường hợp ông Hòn là một câu chuyện đau lòng chồng chất.
Năm 2000, một vụ nổ mìn khi đi lấy gỗ đã cướp mất chân phải của ông và mạng sống của người em họ. Bốn năm sau, một lần đi chăn gia súc, ông giẫm phải mìn và mất nốt bên chân còn lại. Hình ảnh người đàn ông chỉ còn phần thân trên, hằng ngày vẫn nỗ lực lên lán chăn dê, yêu cuộc sống là một biểu tượng lay động về ý chí sống bền bỉ của người dân biên ải. Đáng thương hơn, trong gia đình ông Hòn, người em rể và em cậu cũng bị mất một chân vì tai nạn bom mìn.
Thượng tướng Ngô Minh Tiến, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam bồi hồi với những ký ức không thể nào quên, ông kể: Mảnh đất Vị Xuyên từng là chiến trường ác liệt và nóng bỏng nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc kéo dài suốt 10 năm (1979 - 1989). Đặc biệt, từ tháng 4 - 1984 đến tháng 10 - 1989, Trung Quốc tiếp tục mở các đợt tiến công, lấn chiếm trên tuyến biên giới Vị Xuyên. Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương mà nó để lại vẫn còn hiện hữu trên mảnh đất này. Hàng vạn quả mìn, vật liệu nổ vẫn còn ẩn mình dưới lớp đất đá, khiến hành trình trở về của các liệt sĩ trở nên vô vàn gian nan.
Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên nằm hiền hòa bên Quốc lộ 2, có hơn 1.800 ngôi mộ của các liệt sĩ ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Đi dọc những hàng bia mộ, không khó để bắt gặp những dòng chữ nhói lòng: "Liệt sĩ chưa biết tên". Các anh nằm đó, chung một đội hình, chung một danh xưng là người lính, vĩnh viễn tuổi hai mươi.
Cựu chiến binh Phạm Bá Định, Sư đoàn 356 bồi hồi kể, mỗi tháng Bảy, những người cựu binh tóc đã hoa râm, dáng đi đã chậm như ông lại khoác trên mình bộ quân phục cũ, rưng rưng ôm mặt bia đá gọi tên đồng đội. Có những mẹ già từ miền Trung xa xôi, móm mém mím chặt môi, bàn tay run run vuốt ve ngôi mộ vô danh, thì thầm tiếng gọi con trong nước mắt. Nỗi đau ấy, dù thời gian có phủ lớp bụi mờ, vẫn nhức nhối trong tâm can những người ở lại.
Vị Xuyên không chỉ là một trang sử bi tráng mà còn là một bài học đắt giá về giá trị của hòa bình. Hơn 4.000 cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất này, để lại sau lưng những ước mơ dang dở. Bài ca về Vị Xuyên sẽ không bao giờ tắt. Khúc tráng ca ấy vẫn ngày đêm rì rào cùng gió núi Tây Côn Lĩnh, hòa vào dòng chảy của sông Lô, ngân vang mãi trong tâm trí của các thế hệ người Việt.
Ghi chép: Lê Duy












Ý kiến bạn đọc