Bài 2: "Khoảng lặng" dưới tán chè di sản
|
||
Tiềm năng là vậy, thế nhưng tại nhiều địa phương, những thân chè phủ rêu xanh, từng được công nhận là cây di sản của núi rừng sau nhiều năm khai thác, già cỗi, chưa được chăm sóc, bảo vệ đúng cách đang đứng trước nguy cơ suy kiệt. Đằng sau câu chuyện thương hiệu là một thực tế đáng lo về nguy cơ mai một nguồn gen chè cổ quý hiếm.
![]() |
Mới đây, "cụ" trà cổ 600 năm tuổi ở Suối Giàng, Yên Bái (cũ) đã… quy tiên, tước hiệu "cây trà tổ" được giao cho một "cụ" trà mới. Ở Tuyên Quang, việc suy giảm diện tích cũng như số lượng cây Chè Di sản cũng không nằm ngoài quy luật.
![]() |
| Những cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi được công nhận là Cây di sản ở khu vực các xã phía Tây của tỉnh. |
Xã Nậm Ty là một trong những vùng lõi – thủ phủ chè Shan tuyết của huyện Hoàng Su Phì cũ. Nơi đây có trên 1.000 ha chè Shan tuyết cổ thụ, có trên 500 cây được công nhận là Cây di sản với tuổi trên 100 năm, có cây lên tới 500 – 700 tuổi. Tuy nhiên, hiện nay có khoảng 15 – 20% diện tích chè đang bị già cỗi. Người dân không khỏi xót xa khi chứng kiến những cây chè cổ, trong đó có những cây từng được công nhận là Cây di sản Việt Nam có khả năng chết dần theo thời gian.
![]() |
Không riêng Nậm Ty, tại xã Cao Bồ nơi có hàng trăm ha chè Shan tuyết cổ thụ nằm ở độ cao hơn 1.000 m, nhiều cây chè xuất hiện dấu hiệu già cỗi, thân mục ruỗng, cành khô xơ xác. Có những cây từng cho hàng chục kg búp mỗi vụ nay gần như không còn khả năng sinh trưởng.
Ở xã Thông Nguyên, vùng chè có trên 1.200 ha chè Shan cổ và nhiều cây được công nhận Cây di sản Việt Nam, các hộ dân cho biết năng suất chè cổ thụ giảm rõ rệt trong khoảng 5 - 7 năm trở lại đây. Một số cây chè phát triển tự nhiên quá cao nhưng không được cắt tỉa, phục tráng đúng kỹ thuật khiến việc thu hái khó khăn, cây suy yếu nhanh.
![]() |
Cây trà lâu đời nhất được biết đến hiện nay ở làng Kim Tú, Phượng Khánh, Vân Nam (Trung Quốc) với số tuổi ước tính lên đến 3.200 - 3.500 năm. Tại Việt Nam, các cây trà di sản cao tuổi nhất được khảo sát và công bố đến nay hơn 600 năm, thân to một người ôm. Còn nhiều cây trà cổ thụ thân 2 người ôm nhưng chưa được xác định tuổi cụ thể bằng khoa học.
Theo rà soát của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có hơn 27.500ha chè, trong đó có diện tích chè Shan tuyết núi cao lớn nhất cả nước với hơn 18.000 ha, trong đó khoảng 8.000 ha là chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Sản lượng chè Shan tuyết mỗi năm đạt khoảng trên 55.000 tấn.
![]() |
| Mỗi năm có hàng trăm cây chè Shan tuyết cổ già cỗi bị chết dần. |
Tuy nhiên, phía sau những con số ấy là thực tế đáng lo: Lớp cây cổ thụ kế ngày càng ít, trong khi phần lớn diện tích chè cổ thụ đã vào giai đoạn già cỗi và đang chết dần theo thời gian.
Nhiều chuyên gia nông nghiệp cho rằng, nếu không có giải pháp bảo tồn bài bản, nguy cơ mai một quần thể chè cổ thụ ở Tây Côn Lĩnh là hoàn toàn hiện hữu. Bởi khác với chè trồng đại trà, một cây chè Shan tuyết cổ thụ phải mất hàng trăm năm mới hình thành được giá trị về chất lượng và hệ sinh thái.
![]() |
![]() |
Trong căn nhà nhỏ bên sườn núi ở xã Cao Bồ, chị Ly Mí Súa vừa lựa những búp chè vừa thở dài: “Muốn có tiền thì phải hái liên tục. Đã có những thời điểm thương lái mua được giá thì người dân tranh thủ hái nhiều, cây chưa kịp hồi sức đã lại thu tiếp”.
Theo chị Súa, nhiều hộ dân vẫn chủ yếu làm chè theo kinh nghiệm truyền thống. Việc trèo lên những cây chè cao vài mét để hái búp rất vất vả nên không ít người chọn cách kéo cành, bẻ nhánh cho thuận tiện.
![]() |
| Người dân thu hái chè theo phương thức truyền thống. |
Là một người con đồng bào dân tộc Dao sinh ra và lớn lên ở vùng chè Shan tuyết cổ thụ Thông Nguyên, anh Lý Thành Nhân, Giám đốc HTX Trà Phìn Hồ luôn đau đáu nỗi niềm giữa việc phát triển thương hiệu, giá trị và bảo tồn cây chè Shan tuyết cổ thụ.
Thương hiệu chè Shan cổ thụ của Hoàng Su Phì đã vươn tầm thế giới, các doanh nghiệp trong và ngoài nước ngày càng tìm về nơi đây thu mua, chế biến các sản phẩm từ chè ngày càng nhiều. Vì vậy, không tránh khỏi sự cạnh tranh về giá cả, cạnh tranh về phương thức thu mua lẫn vùng nguyên liệu. Cùng với đó, nhiều người dân còn chưa đủ nhận thức để hiểu hết giá trị của cây chè Shan tuyết, khi nghe lời thu hái cả lá chè già với giá bán rất bèo bọt, chỉ 2 nghìn đồng/kg… nhưng vẫn miệt mài thu hái, thực hiện mà không lường được hết tác động về lâu về dài.
Thực tế dễ nhận thấy ở nhiều vùng chè hiện nay là phương thức khai thác vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Để tăng sản lượng, nhiều hộ dân hái chè liên tục, thậm chí dùng dao hoặc tay để chặt bẻ cành thuận tiện cho thu hái. Đã từng có nơi, người dân thu hái chè gần như quanh năm (trừ vào mùa Đông) khiến cây không có thời gian phục hồi. Hệ quả là không ít cây chè cổ thụ bị tổn thương nghiêm trọng. Tán cây mất cân đối, thân cây dễ nhiễm nấm bệnh, sâu đục thân. Sau nhiều mùa khai thác liên tục, cây dần suy kiệt rồi chết khô.
![]() |
| Thu hoạch và chế biến các sản phẩm từ chè Shan tuyết cổ thụ. |
Đáng lo hơn, tình trạng thu hái theo kiểu “triệt để” đang diễn ra trong bối cảnh nhu cầu thị trường tăng mạnh, rất nhiều sản phẩm chế biến từ chè, ngay cả từ những lá chè già, thậm chí bon - sai trà… khiến áp lực khai thác ngày càng lớn. Trong khi đó, cơ chế kiểm soát vùng nguyên liệu vẫn còn lỏng lẻo. Không ít nơi gắn mác “chè cổ thụ”, “chè rừng”, “chè hữu cơ” nhưng không truy xuất được nguồn gốc sản phẩm làm ảnh hưởng đến uy tín của chè Shan cổ thụ.
Nghịch lý đang hiện hữu ở nhiều vùng chè cổ: Thương hiệu chè Shan tuyết ngày càng nổi tiếng, giá trị thương mại ngày càng cao nhưng sức khỏe của những cây chè cổ thụ đang bị bào mòn qua từng ngày.
![]() |
![]() |
Theo những người trồng chè lâu năm ở xã Thông Nguyên, một kg chè búp tươi bán được không bao nhiêu tiền nhưng công trèo núi, hái chè rất vất vả. Trong khi các sản phẩm chè bán về dưới xuôi giá cao mà bà con vẫn chưa khá lên được. Phần lợi nhuận lớn của sản phẩm chè Shan tuyết hiện nay chủ yếu nằm ở khâu chế biến và thương mại, trong khi người trực tiếp giữ rừng chè lại hưởng lợi ít nhất.
![]() |
Hiện nay, giá chè Shan tuyết búp tươi dao động từ khoảng trên 20 nghìn đồng/kg (tùy vào từng loại). Trong khi đó, sau chế biến, nhiều sản phẩm chè cổ thụ bán ra thị trường dao động từ 300 – 500 nghìn đồng, thậm chí đến hàng triệu đồng, hay cả chục triệu đồng/kg.
![]() |
Từ thực trạng trên, ở một số vùng chè Shan tuyết cổ thụ lớn trên địa bàn tỉnh không khó để bắt gặp những đồi chè cổ bị cỏ dại phủ kín do thiếu người chăm sóc. Nếu xu hướng này kéo dài, nguy cơ mai một các vùng chè Shan cổ sẽ ngày càng nghiêm trọng.
Không những thế, do nguồn thu từ chè không ổn định, nhiều hộ chưa sống được từ cây chè. Vì vậy, đã có thời điểm ở vùng chè cổ thụ tại xã Cao Bồ, nhiều hộ người dân sẵn sàng cho thương lái người nước ngoài thuê lại hàng trăm cây chè cổ thụ tuổi đời hàng trăm năm với thời gian thuê lên tới 20 năm.
![]() |
Trong một bài viết, nhà nghiên cứu Từ Quốc An đánh giá: "Xét về độ nguyên sinh và giá trị sinh học, vùng trà cổ thụ ở huyện Hoàng Su Phì cũ không hề kém cạnh so với những vùng chè nổi tiếng ở Vân Nam (Trung Quốc)”. Vậy mà chè của Việt Nam đang chỉ được bán với giá bằng một phần chục, thậm chí một phần trăm so với họ. Đây có lẽ là lý do thương lái Trung Quốc tìm đến thuê lại cây chè Shan cổ thụ ở Cao Bồ để đánh cắp giá trị hình ảnh, chất lượng thương hiệu chè shan cổ thụ trên địa bàn tỉnh.
Nhưng lãng phí lớn nhất, theo nhà nghiên cứu Từ Quốc An, là một bộ phận người dân chưa biết hết tới giá trị và chưa có ý thức bảo vệ cây chè. Theo tìm hiểu của ông, ở vùng chè Hoàng Su Phì cũ vào tháng 10 năm 2025, người dân chặt mất hai cây chè rừng nguyên sinh ngàn năm tuổi. Đến tháng 12, hai cây chè Shan tuyết cổ thụ trên năm trăm năm bị già cỗi, sâu bệnh hại cũng bị chặt để lấy "củi" mà không tìm giải pháp phục hồi, bảo tồn.
![]() |
| Vùng chè shan tuyết Hồ Thầu được bảo vệ nghiêm ngặt. |
Chị Phạm Thị Minh Hải, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thành Sơn – doanh nghiệp chuyên chế biến các sản phẩm từ chè Shan tuyết vùng núi Tây Côn Lĩnh, cho biết: “Nếu không xây dựng được chuỗi liên kết bền vững, nâng cao nhận thức của những chủ vườn chè thì rất khó giữ người dân gắn bó với chè Shan tuyết lâu dài”.
Thực tế đáng buồn ở tại nhiều địa phương, việc phát triển chè Shan tuyết vẫn nặng về phong trào. Không ít hợp tác xã được thành lập nhưng hoạt động cầm chừng, thiếu liên kết bền vững với người dân. Có nơi đầu tư xây dựng thương hiệu rầm rộ nhưng chưa giải quyết được bài toán căn cơ là nâng thu nhập cho người trồng chè.
![]() |
| Hoạt động chế biến chè Shan tuyết cổ thụ tại Hợp tác xã chè Phìn Hồ, xã Thông Nguyên. |
Xã Mậu Duệ hiện có hàng trăm ha chè Shan tuyết cổ thụ - vùng chè Shan có diện tích lớn nhất khu vực phía Bắc – Cao nguyên đá Đồng Văn. Chủ tịch UBND xã Mậu Duệ Nguyễn Thị Hoài trăn trở: “Khi người dân không sống được bằng cây chè, không có nguồn thu ổn định từ chè, khó có thể yêu cầu họ gìn giữ chè như một di sản, tài sản đem lại giá trị cho gia đình”.
![]() |
![]() |
Thực tiễn, do đặc thù diện tích chè Shan tuyết cổ thụ được trồng trên núi cao, phân bố rải rác, giao thông đi lại hoàn toàn bằng đường mòn, xuyên rừng nên việc theo dõi sự sinh trưởng, chăm sóc gặp nhiều khó khăn. Thậm chí “nhiều cây chè đã được công nhận Cây di sản nhưng sau đó việc chăm sóc vẫn chủ yếu dựa vào người dân. Trong khi chính sách hỗ trợ kinh phí cho bảo tồn chưa có” - Chủ tịch UBND xã Thông Nguyên Vũ Thế Phương trăn trở.
![]() |
| Cây chè Shan tuyết đã gắn bó với đời sống đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh qua nhiều thế hệ. |
Cùng với đó, người dân ở vùng chè Shan cổ cho biết, thời tiết những năm gần đây thay đổi rõ rệt. Những đợt rét đậm kéo dài hoặc nắng nóng bất thường khiến cây chè giảm sức sinh trưởng.
![]() |
Một thực tế khác đang đặt ra là công tác bảo tồn chè Shan tuyết cổ thụ vẫn còn thiếu đồng bộ. Nhiều cây chè được công nhận là Cây di sản Việt Nam nhưng sau lễ công bố lại gần như chưa có chính sách hỗ trợ để chăm sóc đặc biệt. Việc theo dõi sức khỏe cây trồng, phục tráng, phòng trừ sâu bệnh hay đánh giá nguy cơ suy kiệt chủ yếu vẫn mang tính tự phát.
![]() |
| Người dân trồng dặm bảo tồn diện tích chè Shan tuyết. |
Nguồn lực dành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, trong khi việc nghiên cứu khoa học về phục hồi chè cổ thụ chưa tương xứng với giá trị của nguồn gen quý. Cùng với đó, hiện nay việc trồng mới chè Shan tuyết chủ yếu sử dụng cây giống do người dân tự sản xuất nên không kiểm soát được chất lượng hoặc trồng các giống lai, giống thương mại cho năng suất cao. Nếu không có chiến lược bảo tồn nguồn gen gốc, nguy cơ “đồng hóa” chè Shan tuyết là hoàn toàn có thể xảy ra.
![]() |
Giữa mây núi đại ngàn, những cây chè Shan tuyết cổ thụ không chỉ là sinh kế mà còn là ký ức văn hóa, là “báu vật xanh” của đồng bào vùng cao qua nhiều thế hệ. Nhưng nếu những khoảng lặng dưới tán chè hôm nay không sớm được lấp đầy bằng các giải pháp bảo tồn căn cơ, bằng cơ chế, chính sách, bằng sự vào cuộc của các ngành liên quan để người dân thực sự sống được nhờ chè, thì một ngày nào đó, những gốc chè hàng trăm năm tuổi chỉ còn lại trong ký ức. Giữ được chè Shan tuyết cổ thụ cũng chính là giữ lấy nguồn gen quý hiếm, giữ sinh kế cho đồng bào và giữ một phần hồn cốt của núi rừng biên cương phía Bắc.
Bài, ảnh: Nguyễn Đạt, Đoàn Thư, Lương Hà, Ngọc An
























