Chìa khóa phát triển bền vững

07:00, 11/07/2026

Việt Nam được dự báo sẽ trở thành quốc gia có dân số già vào năm 2036 và là “xã hội siêu già” vào năm 2049. Để đất nước phát triển bền vững, bảo đảm mức sinh thay thế phù hợp và chất lượng dân số là bài toán cần được quan tâm, giải quyết không chỉ trước mắt mà còn phải là chiến lược lâu dài. Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Tuyên Quang có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân).

Phóng viên: Thưa GS.TS Nguyễn Đình Cử, sau gần 60 năm thực hiện công tác dân số, Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới đã nhấn mạnh “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển”, lấy chất lượng dân số làm tiêu điểm. Xin Giáo sư cho biết vì sao chúng ta cần sự chuyển hướng chiến lược này?

GS.TS Nguyễn Đình Cử.
GS.TS Nguyễn Đình Cử.

GS.TS Nguyễn Đình Cử: Sự chuyển hướng này mang tính tất yếu lịch sử, bởi chúng ta đã hội đủ các điều kiện cần và đủ. Nhờ kiên trì đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình từ năm 1961, Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế (mỗi cặp vợ chồng có 2 con) từ năm 2005 và duy trì vững chắc đến năm 2017. Có thể nói, bài toán về “số lượng dân số” trên bình diện quốc gia đã cơ bản được giải quyết. Bên cạnh đó, chúng ta đã trở thành nước có thu nhập trung bình, sự phát triển của y học, y tế và giáo dục tạo điều kiện thuận lợi để các gia đình “sinh con không bệnh tật bẩm sinh, nuôi con khỏe, dạy con tốt”.

Chất lượng dân số, thường được đo bằng “Chỉ số phát triển con người” (Human Development Index - HDI) của Việt Nam liên tục tăng, nhưng khi phân tích sâu vào các cấu thành của chất lượng dân số, chúng ta đang đối mặt với những thách thức lớn. Chẳng hạn, tỷ lệ bệnh, tật bẩm sinh ở thai nhi và trẻ sơ sinh nước ta khá cao, lên tới 7,8%. Tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn ở mức gần 25%, trong khi tỷ lệ béo phì cao, lại tăng nhanh chóng ở khu vực thành thị. Hơn nữa, tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên rất thấp, chỉ đạt khoảng 20%. Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp, gây nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” và đối diện với kịch bản “già trước khi giàu” do tốc độ già hóa dân số của nước ta đang thuộc nhóm nhanh nhất thế giới.

Phóng viên: Với những thách thức đa chiều như vậy, rõ ràng chúng ta không thể sử dụng một biện pháp đơn lẻ. Ông có nhấn mạnh đến quan điểm “tiếp cận theo vòng đời”. Cụ thể, các giải pháp nâng cao chất lượng dân số cần được thiết kế và thực thi như thế nào qua từng giai đoạn phát triển của một con người?

GS.TS Nguyễn Đình Cử: Chất lượng dân số ở các giai đoạn kế tiếp của vòng đời liên quan mật thiết và kế tục lẫn nhau. Do đó, giải pháp phải được thực hiện từ rất sớm, thích hợp với từng giai đoạn.

Thứ nhất, chú trọng chất lượng dân số ngay từ giai đoạn đầu đời: Đây là nền tảng cốt lõi. Chúng ta phải đẩy mạnh tư vấn, khám sức khỏe trước hôn nhân để phòng tránh các rủi ro di truyền. Đặc biệt, phải giảm tỷ lệ tảo hôn; hôn nhân cận huyết, nâng cao tỷ lệ tầm soát, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh. Với quy mô khoảng 1,6 triệu ca sinh mỗi năm, nếu không tầm soát, nước ta sẽ có khoảng 124.800 trẻ sinh ra mắc bệnh tật bẩm sinh mỗi năm.

Thứ hai, giai đoạn thanh, thiếu niên: Trọng tâm là phòng chống suy dinh dưỡng, béo phì và nâng cao thể lực, tầm vóc người Việt Nam thông qua các chương trình dinh dưỡng học đường. Về trí tuệ, do quy mô học sinh phổ thông đã bắt đầu giảm, chúng ta không cần mở rộng quy mô mà phải chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng giáo dục. Cần dồn sức xây dựng ít nhất một đại học tinh hoa lọt vào top 100 trường đại học tốt nhất thế giới để đào tạo nhân lực chất lượng cao, dẫn dắt hệ thống giáo dục.

Thứ ba, giai đoạn tuổi lao động: Giải pháp ở đây là đảm bảo sức khỏe để người dân có khả năng làm việc, tiết kiệm nguồn lực đầu tư để tạo việc làm, và đào tạo chuyên môn kỹ thuật để người lao động làm việc với năng suất và thu nhập cao. Tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật cao là rào cản lớn cần được dỡ bỏ bằng cách mở rộng và nâng cao chất lượng hệ thống đào tạo nghề.

Thứ tư, giai đoạn cao tuổi: Việt Nam sẽ trở thành nước có dân số già vào năm 2036. Giải pháp là thực hiện “Già hóa khỏe mạnh”. Ngay từ khi còn trẻ, mỗi người phải có lối sống lành mạnh, sinh đẻ có kế hoạch và tích lũy tài chính. Đối với người cao tuổi hiện tại, cần phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc, tạo điều kiện việc làm phù hợp để họ tiếp tục đóng góp, để họ trở thành nguồn lực phát triển thay vì coi là “gánh nặng phụ thuộc”.

GS.TS Nguyễn Đình Cử tại các hội thảo về công tác dân số của Việt Nam.
GS.TS Nguyễn Đình Cử tại các hội thảo về công tác dân số của Việt Nam.

Phóng viên: Để hệ thống giải pháp theo vòng đời trên thực sự đi vào đời sống, theo GS.TS đâu là những ưu tiên mang tính quyết định về mặt luật pháp, ngân sách cũng như truyền thông cộng đồng trong bối cảnh hiện nay?

GS.TS Nguyễn Đình Cử: Để thực hiện thành công, chúng ta cần sự đồng bộ của nhiều giải pháp vĩ mô, tập trung vào ba trụ cột chính sau đây:

Một là, kiên trì và đẩy mạnh truyền thông thay đổi hành vi. Việc nâng cao chất lượng dân số đòi hỏi một “cuộc cách mạng” nhằm xóa bỏ các tập quán lạc hậu đã bén rễ hàng ngàn đời, chuyển từ hành vi sinh sản truyền thống sang hiện đại. Cần truyền thông để người dân từ bỏ hủ tục tảo hôn, hôn nhân cận huyết, thói quen không khám sức khỏe trước hôn nhân, tư tưởng ưa thích con trai; tầm soát trước sinh và sơ sinh.

Hai là, nhanh chóng bổ sung và hoàn thiện luật pháp về chất lượng dân số. Hạn chế của các đề án là tính pháp lý chưa cao và thường không được bố trí ngân sách cụ thể, kinh phí chủ yếu huy động hoặc lồng ghép, dẫn đến hiệu quả rất khiêm tốn trên thực tế. Cần sớm luật hóa các vấn đề liên quan đến chất lượng dân số để có hành lang pháp lý vững chắc và sự đảm bảo về nguồn lực thực thi.

Ba là, Nhà nước cần ưu tiên ngân sách, có các khoản đầu tư “mồi” để khuyến khích người dân thực hiện các dịch vụ như tầm soát bệnh tật bẩm sinh. Đặc biệt, tôi nhấn mạnh quan điểm phải xây dựng một quốc gia “không ma túy, không khói thuốc, hạn chế bia rượu”. Hiện nay, ngành công nghiệp thuốc lá, bia rượu đóng góp hàng chục ngàn tỷ đồng cho ngân sách, nhưng thiệt hại về sức khỏe và kinh tế do chúng gây ra còn lớn hơn nhiều.

Mỗi năm người Việt chi hàng nghìn tỷ đồng mua thuốc lá, trong khi tổn thất kinh tế và chi phí điều trị cho 5 nhóm bệnh liên quan đến thuốc lá đã lên tới trên 20 nghìn tỷ đồng/năm. Chúng ta không thể vì nguồn thu ngân sách trước mắt mà thỏa hiệp với những tác nhân tàn phá thể chất, tinh thần và chất lượng giống nòi của quốc gia.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn GS.TS Nguyễn Đình Cử.

Thực hiện: Lê Duy


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, khám bệnh, tư vấn, cấp thuốc miễn phí cho người dân thôn Hạ Sơn và thôn Lạc Nông, xã Bắc Mê
Ngày 10-7, Đảng ủy Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Đảng ủy xã Bắc Mê tổ chức chương trình tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp phát thuốc miễn phí và trao quà cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn tại thôn Hạ Sơn và thôn Lạc Nông, xã Bắc Mê.
10/07/2026
Tổ chức EPVN hỗ trợ sinh kế cho người dân xã Vị Xuyên
Ngày 10-7, tại Nhà văn hóa thôn Suối Đồng, xã Vị Xuyên, Tổ chức Enfance Partenariat VietNam (EPVN) của Pháp phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh tổ chức chương trình trao hỗ trợ sinh kế cho người dân thôn Suối Đồng.
10/07/2026
Quy tập thêm 2 hài cốt liệt sĩ tại điểm cao 685, xã Thanh Thủy
Chiều 9-7, Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang tổ chức cất bốc 2 hài cốt liệt sĩ tại điểm cao 685, thôn Nặm Ngặt, xã Thanh Thủy.
10/07/2026
Đại hội Hội Nhà báo tỉnh Cao Bằng lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025-2030
Sáng 10-7, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Cao Bằng, Hội Nhà báo tỉnh Cao Bằng long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025-2030.
10/07/2026