Báo Tuyên Quang điện tử
.

Kỳ I: “Rào cản” vô hình

14:56, 28/03/2026
 

 

 

 

TTôi gặp Vừ Thị Cáy, thôn Phố Mì, xã Mèo Vạc khi em đang lầm lũi gùi củi trên con dốc đá dựng đứng. Ở tuổi 16, cái tuổi lẽ ra đang ríu rít cùng bạn bè đến trường, Cáy đã làm vợ người ta. Nhà Cáy có 5 anh chị em, chỉ hai đứa út được đi học, còn Cáy, như một định mệnh định sẵn của con gái vùng cao: Ở nhà làm nương để chờ ngày về nhà người.

Cuộc đời Cáy là chuỗi dài bi kịch bắt nguồn từ cái “3 không”: Không tiếng Kinh, không chữ viết, không quyền quyết định. Em lớn lên như cây cỏ dại giữa khe đá, bước chân về làm dâu khi chưa kịp hiểu "làm vợ, làm mẹ" nghĩa là gì.

 
Thế giới của Cáy thu bé lại bằng gian bếp ám khói và đứng cửa ngóng chồng.

Cáy cúi mặt, đôi bàn tay nứt nẻ vân vê vạt áo cũ sờn, giọng thều thào qua lời phiên dịch: “Nhà đông con (4 đứa con), cái ăn, cái mặc không đủ. Nhiều đêm con khát sữa khóc ngằn ngặt, mình chỉ biết ra hái lá rừng về đun nước cho con uống thay. Cái chữ mình không biết, tiếng Kinh mình không hay, nên chồng đi đâu, làm gì mình cũng chịu” - Cáy nói.

 

 

 

 

Cũng chung phận “hoa rừng nở sớm”, em Chá Thị Chúa, thôn Phố Mì, xã Mèo Vạc học hết lớp 9, em quen chồng qua mạng xã hội. Một cuộc "bắt vợ" chóng vánh, Chúa tặc lưỡi nghĩ "đằng nào cũng phải lấy chồng" nên xuôi tay theo số phận. Giờ đây, ở cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”, chúa đã là mẹ của 3 đứa con gái. Theo phong tục, em phải "cố" đẻ bằng được một mụn con trai mới được phép thôi đẻ.

Khi hỏi nếu được chọn lựa lại lần nữa thì có lấy chồng sớm không, Chúa chỉ cúi gằm mặt không nói, cố giấu giọt nước mắt đang chực trào ra nơi khóe mắt, đôi tay vân vê như muốn xé nát tà áo nhuốm đầy mủ cây rừng.

Dưới sức nặng của cái gùi và định kiến, tuổi thanh xuân của những thiếu nữ vùng cao sớm khép lại sau lũy đá xám.

Vừa rời ghế nhà trường lớp 9, em Hùng Thị Mây, dân tộc Pà Thẻn, xã Tân Trịnh đã bị đẩy vào cuộc hôn nhân không giá thú. Do chưa đủ tuổi, em không được pháp luật công nhận, nhưng "luật bản" đã trói buộc em vào gánh nặng làm dâu. Nhìn bạn bè đồng trang lứa xúng xính áo quần đi học, Mây chỉ biết đứng từ xa nhìn theo với ước mơ dang dở. Định kiến "con gái học nhiều cũng chỉ để lấy chồng" như một bức tường thành kiên cố chặn đứng con đường tìm kiếm tri thức của những mầm xanh vùng cao.

Mây bảo: “Ngày trước mình cứ tưởng lấy chồng là được sung sướng, ai ngờ lấy về chỉ thấy cái bụng to lên và cái gùi nặng thêm. Nếu được chọn lại, mình chỉ ước được đi học chữ, để biết cái giấy kết hôn nó viết gì, để không phải đẻ cố như thế này...”

Trong ngôi nhà nhỏ chừng 70m2 nằm lưng chừng ngọn đồi, 2 người phụ nữ đang cặm cụi làm việc nhà, thấy người lạ, mấy đứa nhỏ chừng hơn 2 tuổi nép vào người mẹ, đôi mắt trong veo. Bà Già Thị V, thôn Hầu Chúa Ván, xã Phố Bảng là bà nội của đứa trẻ. Sau khi được nghe giới thiệu có phóng viên ở tỉnh về tìm hiểu cuộc sống của những cặp vợ chồng tảo hôn thì bà chỉ tay về phía người con dâu rồi thở dài: “Năm trước mới sinh một đứa, giờ thì cái bụng lại to lên nữa rồi. Chẳng biết làm sao hết. Ông bà nói đông con thì đông của, nhưng giờ đông con chỉ thấy đói thôi”.

 

Những đứa trẻ lớn lên trong vòng vặp tảo hôn, thu hoạch nương rẫy, gánh vác trách nhiệm gia đình khi tuổi đời còn quá trẻ.

 

Con trai bà V. là Ly Mi S học chưa hết cấp 2 thì bỏ học đi làm thuê và quen biết với em Cừ Thị P. Rồi một ngày, đôi trẻ dắt díu nhau về thông báo với gia đình là đã có thai, khi đó S mới 17 tuổi, P. 15 tuổi. Sự đã rồi, bà V. cùng chồng khăn gói qua nhà gái để xin được cưới hỏi cho đôi trẻ. “Đến giờ vẫn còn đang nợ tiền cưới chừng 5 triệu đồng gì đấy. Tiền lễ nhà gái, rồi cỗ bàn, tốn kém lắm, nhưng cũng phải làm cho đúng tục lệ” - bà V. nói. Cuộc sống màu hồng của đôi vợ chồng trẻ cũng nhanh kết thúc khi đứa trẻ ra đời. Nỗi lo về cơm áo gạo tiền bủa vây. Tiếng khóc của đứa trẻ mỗi khi thiếu sữa ngày một dày đặc hơn.

Bà V. thở dài: “Thằng S. có chịu làm gì đâu, suốt ngày cứ cắm đầu vào cái điện thoại, rồi lại tụ tập rượu chè đi chơi. Lâu lâu đi làm thuê trong bản được mấy đồng rồi cũng giữ lấy tiêu pha. Con khóc, con đói cũng không lo hết. Vì thương cháu thiếu sữa, lâu lâu mình vẫn ra quầy tạp hóa mua nợ cho nó mấy hộp. Giờ nợ nhiều quá, họ không bán cho nữa, đành nhịn. Rồi còn cái đứa trong bụng chuẩn bị sinh nữa, không biết làm sao đây. Hồi xưa nuôi con thấy dễ, giờ khó quá”. Cái hồi xưa của bà V. chính là lúc bà có chồng, sinh con ở tuổi 16. Khi chính thức lên làm bà nội cháu đầu tiên, bà V. chỉ mới 34 tuổi.

 

Một phụ nữ xã Phố Bảng vừa thu hoạch củ cải, vừa chăm cháu, kết quả của cuộc hôn nhân tảo hôn của người con trai.

 

 

Ông Thào Mí Pó, Bí thư Chi bộ thôn Hầu Chúa Ván thở dài, đưa mắt nhìn về phía những dốc đá xám: “Cái nạn tảo hôn này nó như con mọt nghiền nát cái chân cột nhà mình thôi. Đẻ sớm quá, cái cây chưa cứng nhựa đã phải đeo quả thì người yếu, con cũng chẳng khỏe, giống nòi mình cứ thế mà lụi đi. Rồi cái nghèo nó cứ bám lấy lưng như cái gùi, chẳng bao giờ đặt xuống được. Thanh niên chưa đủ tuổi đã lấy nhau, không có giấy tờ kết hôn của Nhà nước thì sau này làm giấy khai sinh cho con, làm sổ đỏ cái đất, cái nương cũng khổ trăm bề, đúng là cái rào cản chắn ngay trước cửa nhà mình đấy...”  

 

 

Bi kịch của nhà bà V. không phải cá biệt. Đó là minh chứng cho một thực tế nghiệt ngã: Tảo hôn giống như một mầm bệnh di truyền, bám rễ từ đời này sang đời khác, khiến cái nghèo cứ mãi luẩn quẩn dưới những mái nhà dột nát.

Một buổi tuyên truyền phòng chống tảo hôn, bình đẳng giới của Hội LHPN xã Phố Bảng.

Chị Nguyễn Thị Bích Hạnh, Chủ tịch Hội LHPN xã Phố Bảng khi nói về vấn đề này cũng lắc đầu ngao ngán. “Chẳng có phương án gì hiệu quả và thực tế bằng cách tuyên truyền cả. Nhưng tuyên truyền như thế nào mới là vấn đề. Tất nhiên là mình ghi nhận những đóng góp của các tổ chức xã hội, nhưng cái căn cơ, cốt lõi nhất là phải làm thế nào để thay đổi được nhận thức của đồng bào. Một nghịch lý lớn nhất là khi càng tiếp xúc với công nghệ, thì tỷ lệ tảo hôn lại càng nhiều. Cứ xem phim ảnh rồi làm theo, nhắn tin làm quen trên mạng rồi tìm gặp sống thử, đến khi sự đã rồi thì phải cưới” – chị Hạnh nói.

 

 

Cũng theo chị Hạnh,  nguyên nhân của tình trạng  tảo hôn và kết hôn cận huyết thống là tập tục tồn tại từ lâu đời, vì vậy để thay đổi các hành vi nhận thức đến hành động xoá bỏ được hủ tục cần có thời gian nhất định; một bộ phận người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, sự cần thiết phải xóa bỏ các hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu với cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương...

Phụ nữ xã Mèo Vạc tuyên truyền cho hội viên đồng bào dân tộc về công tác bình đẳng giới, thúc đẩy phát triển kinh tế.

Chị Vàng San Mẩy, Chi Hội trưởng Hội LHPN thôn Phố Mì, xã Mèo Vạc chia sẻ: "Nhiều chị em đến hội kêu khổ vì bị chồng đánh, vì con đói, nhưng khi chúng tôi vận động đừng cho con gái lấy chồng sớm thì họ lại gạt đi: “Nó phải lấy chồng thì mình mới hết trách nhiệm chứ, để nó ở nhà lâu người ta cười cho”. Cái khổ của họ không chỉ là thiếu cái ăn, mà là thiếu can đảm để bước qua lời ra tiếng vào của bản làng”.   

Sự hạn chế về giáo dục và ngôn ngữ đã đẩy phụ nữ vùng cao vào thế yếu trong các vấn đề dân sự. Ở những bản làng xa xôi, chuyện ký giấy tờ đất đai hay giao dịch thường diễn ra trong cảnh "chồng nói, vợ gật". Vì không biết chữ, người phụ nữ mặc nhiên giao phó tài sản, thậm chí là quyền lợi hợp pháp của mình cho sự định đoạt của đàn ông.

 

 

 

 

Thời gian qua, mặc dù công tác phòng, chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết luôn được các cấp chính quyền, các ngành  quan tâm, đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về các hệ lụy của vấn nạn tảo hôn...

Thay đổi nhận thức của cộng đồng là "cuộc chiến" cam go nhất để phá bỏ những bức tường định kiến đã tồn tại qua nhiều thế hệ.

 

Tuy nhiên, tỷ lệ tảo hôn ở địa bàn các xã vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh hiện nay vẫn còn cao.  Tảo hôn để lại những hệ lụy nặng nề và lâu dài bởi trẻ em gái bỏ học sớm, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng sống, dễ rơi vào nghèo đói bền vững.

 

 

 

Đánh giá về vấn đề này, đồng chí Triệu Thị Tình, Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN tỉnh nhận định: Phụ nữ vừa là nạn nhân của hủ tục, vừa bị buộc trở thành người tiếp tục duy trì hủ tục do sức ép cộng đồng. Sức ép cộng đồng lớn đến mức những người phụ nữ từng đau khổ vì tảo hôn, khi trở thành mẹ chồng, bà nội, lại tiếp tục thúc ép con cháu mình lấy chồng sớm "cho yên bề gia thất". Họ sợ tiếng xì xào của bản làng hơn là sợ con cháu mình khổ. Họ sợ con gái "quá lứa" sẽ bị coi thường, sợ dòng họ chê cười không biết dạy bảo.

Tảo hôn không chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ làm mẹ, mà là sự suy giảm chất lượng dân số, gia tăng bạo lực gia đình và nghèo đói bền vững.

 

Những “rào cản” vô hình được dựng lên từ định kiến và hủ tục không dễ phá bỏ trong ngày một ngày hai. Nhưng khi những mầm xanh được trao cơ hội học tập, được lắng nghe và được lựa chọn, cũng là lúc phụ nữ vùng cao bắt đầu tự tin bước qua hàng rào định kiến, mở ra hành trình mới để làm chủ cuộc sống.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 

 

 


Ý kiến bạn đọc


Đọc tiếp