Chọn được sống an toàn

TQĐT - “Chúng tôi tự nhủ, làm chuyên môn không chỉ là hướng dẫn bà con cách phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, mà từng bước giúp họ thay đổi được những thói quen sản xuất tác động xấu đến môi trường mà lâu nay bà con chưa nhận ra”. Chia sẻ của bà Trần Thị Lịch, Chi cục phó Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (BVTV) cũng là tâm niệm của đội ngũ cán bộ Chi cục Trồng trọt và BVTV lâu nay.

Tự hào giải thưởng Môi trường Việt Nam 

Đúng ngày Môi trường thế giới 5-6, Chi cục Trồng trọt và BVTV vinh dự là đơn vị duy nhất của tỉnh Tuyên Quang và cũng là tập thể duy nhất của ngành nông nghiệp cả nước được Bộ Tài nguyên và Môi trường trao tặng giải thưởng Môi trường Việt Nam năm 2017. Bà Trần Thị Lịch, Chi cục phó Chi cục Trồng trọt và BVTV chia sẻ, có được sự ghi nhận này là cả quá trình chúng tôi tìm kiếm, đưa vào những cách làm mới, giảm thiểu tác hại về lâu dài đến môi trường cho người nông dân. 


Khách du lịch nước ngoài trải nghiệm thu hái chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP
tại thôn 3  Làng Bát, xã Tân Thành (Hàm Yên).

Một trong những vấn đề đáng lo ngại của ngành nông nghiệp Tuyên Quang là việc sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất. Thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT, hàng năm trên địa bàn tỉnh sử dụng từ 600 đến 700 tấn thuốc bảo vệ thực vật để phòng, trừ dịch hại trên cây trồng. Cùng với đó là hàng nghìn tấn phân bón hóa học được sử dụng cho các loại cây trồng hàng năm. Lượng rác thải rắn từ vỏ bao bì thuốc BVTV tràn ra khắp các cánh đồng vừa ô nhiễm môi trường, vừa ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân. 

Trước thực trạng này, Chi cục Trồng trọt và BVTV xây dựng mô hình cộng đồng quản lý, sử dụng an toàn, hiệu quả thuốc BVTV. Đây là mô hình đầu tiên đơn vị xây dựng, nhưng đã tạo được hiệu ứng tích cực. 

Mô hình được triển khai từ năm 2010 tại 3 xã điểm là Nhân Mục (Hàm Yên), Thượng Ấm (Sơn Dương), Hoàng Khai (Yên Sơn), mục tiêu ban đầu, bên cạnh việc hướng dẫn người dân sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách, là xây dựng thí điểm tại mỗi xã 2 bể chứa bao bì thuốc BVTV. Bà Lịch cho biết, trước khi thực hiện mô hình, cán bộ Chi cục đã đi khảo sát tại nhiều địa phương trong tỉnh, điều khiến chúng tôi trăn trở nhất là tình trạng vứt vỏ bao bì thuốc BVTV rất đáng lo ngại, mà chủ yếu là vứt luôn ở đầu nguồn nước, điều này về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường sống và sức khỏe của người dân. Chi cục Trồng trọt và BVTV đã xây dựng đề tài, khảo sát điểm xây dựng bể chứa, trong đó tập trung xây dựng các bể chứa tại khu vực lấy nước sản xuất của người dân, sao cho ngay khi pha thuốc, bà con có thể bỏ bao bì thuốc vào bể chứa luôn. 

Tuy nhiên, để thay đổi thói quen là chuyện không hề đơn giản. Bà Lịch chia sẻ, khi bắt tay vào thực hiện, cán bộ Chi cục vừa giám sát, vừa theo sau nông dân thu gom lại bao bì. Sau ngành chủ động phát động các đợt ra quân thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV, khuyến khích, hướng dẫn các thôn, xóm xây dựng những quy ước chung, trong đó mỗi người dân tự giám sát lẫn nhau... Chính nhờ sức mạnh cộng đồng mà mô hình thành công ngoài sự mong đợi. Nhiều xã như Thiện Kế, Thượng Ấm (Sơn Dương), nhiều hộ dân không trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước mà tự đóng góp tiền, ngày công xây dựng bể chứa gần khu vực ruộng của gia đình.

Anh Nguyễn Văn Lợi, Chủ tịch UBND xã Thiện Kế (Sơn Dương) nhớ lại, thời điểm mới bắt tay vào thực hiện, chính quyền xã cũng không tin hiệu ứng từ mô hình này lại có sức lan tỏa mạnh đến như thế. Bởi lẽ, thói quen sản xuất của người dân lâu nay đã gần như “bắt rễ” vào sinh hoạt thường ngày: bao bì, vỏ thuốc tiện đâu bỏ đấy, nhiều người bỏ ngay đầu nguồn nước sản xuất mà không hề lo lắng gì đến chất lượng sống sau này. Nhưng nhờ được cán bộ Chi cục hướng dẫn, tập huấn thường xuyên, nhiều thôn đưa cả chỉ tiêu này vào quy ước thôn để bình xét Gia đình Văn hóa cuối năm, nên mọi chuyện giờ đã được giải quyết. Từ 2 bể thu gom ban đầu, giờ Thiện Kế xây dựng được 45 bể/15 thôn, bản. Anh Lợi bảo, giờ 100% xứ đồng ở Thiện Kế có bể thu gom, xóa bỏ hẳn tình trạng xả thải ra đồng ruộng như trước đây! 

Từ 6 bể chứa rác thải tại 3 xã nằm trong dự án, đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 28 kho chứa, 1.511 bể chứa, mỗi năm thu gom và tiêu hủy trung bình 10 tấn vỏ bao bì thuốc BVTV tại 38 xã, thị trấn trong toàn tỉnh. Bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh, Chi cục Trồng trọt và BVTV cũng vận động, kêu gọi được các doanh nghiệp, đại lý kinh doanh thuốc BVTV hỗ trợ xây dựng 120 bể chứa, với số tiền hơn 60 triệu đồng. 

Không dừng lại ở việc thu gom, mỗi năm, đơn vị hợp đồng với các công ty xử lý chất thải rắn tại Hải Dương đưa gần 10.000 kg vỏ bao bì thuốc BVTV đi tiêu hủy theo đúng quy định. 

Tuyên Quang là tỉnh đầu tiên xây dựng và thực hiện thành công mô hình này. Từ tỉnh ta, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã đến học tập kinh nghiệm, xin thiết kế đề tài để về triển khai tại địa phương như Yên Bái, Phú Thọ, Đắc Lắc... Đề tài được trao giải Ba tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang năm 2015 và cá nhân bà Trần Thị Lịch được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao giải thưởng Tài năng sáng tạo nữ giai đoạn 2011- 2013. 

Mỗi nông dân là một chuyên gia

Bà Trần Thị Lịch cho biết, mục tiêu lớn nhất mà đơn vị mong muốn chính là hướng dẫn, xây dựng mỗi nông dân trở thành chuyên gia trong nhân rộng, áp dụng các mô hình sản xuất an toàn. Vì vậy, Chi cục Trồng trọt và BVTV lựa chọn hạt nhân từ chính các tổ hợp tác, vì theo bà Lịch, nông dân thời đại mới có khả năng thích ứng nhanh, nhạy và có đủ khả năng hướng dẫn cho nhiều nông dân khác cùng làm theo. Cách lựa chọn này bước đầu đã phát huy hiệu quả. 


Người dân xã Thiện Kế (Sơn Dương) thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV. 

Ông Phạm Văn Luận, thôn 3 Làng Bát, xã Tân Thành (Hàm Yên), Tổ trưởng tổ hợp tác sản xuất chè an toàn cho biết, thời điểm khởi đầu, tổ hợp tác trồng chè chỉ có 10 thành viên trên diện tích 5 ha, đến nay số thành viên đã lên đến 30, tổng diện tích trồng chuyển đổi theo VietGAP là 16 ha. Thời gian đầu, các tổ viên được phân khu trồng và bắt buộc thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng, đây là hạn chế rất lớn đối với những người trồng chè ở Làng Bát, nhưng sau khi được quán triệt chỉ những lô chè thu hái đúng thời gian cách ly khi bón phân hay phun xịt thuốc bảo vệ thực vật mới được đưa đến cơ sở chế biến, thì mỗi thành viên giờ tự giác thực hiện theo đúng nguyên tắc. Trong năm nay, Chi cục Trồng trọt và BVTV tiếp tục hướng dẫn các thủ tục xây dựng tổ hợp tác lên thành hợp tác xã, đồng thời, hướng dẫn các bước để cấp lại chứng nhận VietGAP cho sản phẩm chè của địa phương. 

Hiện Chi cục Trồng trọt và BVTV đã hướng dẫn, giúp các địa phương chứng nhận 20,5 ha chè theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Trung Yên (Sơn Dương) và thôn 3 Làng Bát, Tân Thành (Hàm Yên); 131,1 ha cam tại các xã Bằng Cốc, Tân Thành, Yên Phú, Phù Lưu, thị trấn Tân Yên (Hàm Yên). Năm 2017, nhằm giúp các địa phương thực hiện các yêu cầu trong Đề án vùng sản xuất cam sành giai đoạn 2014 - 2020, Chi cục Trồng trọt và BVTV tiếp tục xây dựng 17 ha cam theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Trung Hà (Chiêm Hóa), đến năm 2020, sẽ mở rộng diện tích cam theo tiêu chuẩn VietGAP ra toàn bộ diện tích cam của xã Tân Thành; đây cũng là xã Chi cục Trồng trọt và BVTV lựa chọn để thực hiện mô hình sản xuất cam, chè theo hướng hữu cơ trong năm nay.  

Không bó hẹp trong hướng dẫn sản xuất, quản lý an toàn dịch bệnh, Chi cục Trồng trọt và BVTV tham gia vào kế hoạch làm sạch môi trường qua việc xây dựng quy trình xử lý nước thải chuỗi dong riềng của Hợp tác xã Thắng Lợi, xã Lực Hành (Yên Sơn), đồng thời sản xuất phân vi sinh từ bã dong riềng tại đây. 

Theo anh Phạm Đình Thắng, Giám đốc Hợp tác xã Thắng Lợi, trước đây mỗi ngày xưởng chế biến của hợp tác xã thải ra môi trường khoảng 150 - 170 m3 nước thải, do không có công nghệ để xử lý nước thải, khiến chất lượng môi trường sống trong khu vực bị ảnh hưởng. Đầu năm 2017, Chi cục Trồng trọt và BVTV hỗ trợ xây dựng quy trình xử lý nước thải trong sản xuất dong riềng, toàn bộ nước thải trong quá trình xử lý được dồn vào bể lắng, sau đó được xử lý bằng chế phẩm vi sinh của Viện Môi trường Nông nghiệp trước khi thải ra môi trường. Anh Thắng so sánh, giờ nước thải sau sản xuất “trong như nước khoáng”, mối lo ngại trong sản xuất của hợp tác xã đã cơ bản được giải quyết rồi. Vụ sản xuất dong riềng đầu năm vừa rồi, hợp tác xã cũng sản xuất được gần 200 kg phân bón từ bã dong riềng, qua thử nghiệm trên cây ăn quả, hiệu quả không thua kém gì so với phân bón hóa học. 

Bà Lịch bảo, mỗi năm chúng tôi phấn đấu đưa một mô hình mới, mở rộng thêm diện tích cây trồng theo tiêu chuẩn VietGAP ra thêm một chút. Có như vậy, sản xuất nông nghiệp tỉnh ta mới tiệm cận gần hơn với khái niệm nông nghiệp sạch, và người nông dân cũng sẽ làm quen dần với cách thức sản xuất mới, không chạy đua theo số lượng, mà chuyển dần sản xuất về nâng cao chất lượng và giá trị. Chúng tôi nỗ lực ngày hôm nay không phải để lấy thành tích cho bản thân, mà để thế hệ con cháu được lựa chọn cuộc sống an toàn, được sống trong môi trường an lành hơn.

Ghi chép: Trần Liên

Tin cùng chuyên mục