Đổi mới quan hệ sản xuất giữa vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến

TQĐT - Thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập, năm 2016, Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm đã triển khai mô hình liên kết vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến. Đây là mô hình chuyển từ sản xuất nông nghiệp manh mún thành vùng sản xuất tập trung nhưng người trồng chè vẫn đóng vai trò chủ thể. Chủ vườn chè chi phí công lao động ít hơn, nhưng chất lượng, sản lượng và thu nhập tăng; sức khỏe, môi trường của người làm chè được đảm bảo.

Đổi mới liên kết nông nghiệp với công nghiệp

Đầu tháng 4, qua các vườn chè của Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm nơi đâu chúng tôi cũng thấy bạt ngàn màu xanh. Sau lứa hái tạo tán, thời gian này chè vẫn đang ngủ nghỉ (chưa cho búp) nhưng khắp các vườn chè vẫn tấp nập người lao động, người sửa tán chè, người cuốc rạch ép xanh, có hộ lại đào hố giữa rạch chè để trồng bổ sung cây bóng mát. 


Dây chuyền sản xuất chè đen CTC của Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm.

Theo anh Hán Văn Trường, đội trồng chè Kim Phú muốn có năng suất chè cao thì vườn chè phải có cây bóng mát. Bởi chè là cây ưa ánh sáng tản, không chịu được ánh sáng trực tiếp như lúa, ngô nên việc bổ sung cây bóng mát để các cây chè cho búp đồng đều. Vậy vườn chè của gia đình anh năng suất đạt bao nhiêu tấn? - Tôi hỏi. Anh Hán cười và bảo: “Nhà có 2,1 ha chè, năm 2016 sản lượng đạt 46 tấn búp tươi, nhưng năm 2016 do thời tiết khô hạn sản lượng giảm hơn 10 tấn”. Tôi nhẩm tính, năng suất vườn chè của gia đình anh Hán đạt xấp xỉ 23 tấn búp tươi/ha/năm với giá bán thị trường tự do, bình quân 3,5 triệu đồng/tấn (3.500 đồng/kg), thu nhập của người làm chè đạt trên 80 triệu đồng/ha/năm. Anh Hán cho biết thêm, do công ty có cơ chế liên kết chè tập trung, giá thu mua cao và ổn định, năm 2017 gia đình đã đăng ký liên kết theo mô hình mới. 

Tại khu vực chè của đội 16, chị Nguyễn Thị Liên đang dùng máy làm cỏ dưới tán chè. Trao đổi với chị về cơ chế liên doanh thu hái nguyên liệu với công ty, Chị Liên vui vẻ cho biết, chị nhận khoán 1,7 ha theo Nghị định 01, ngày 4-1-1995 của Chính phủ. Trong 2 năm vừa qua, phần do sức khỏe, phần do neo người, chị cho thuê lại vườn chè nhưng người thuê chỉ biết “bứt đầu bỏ đói gốc chè” (thu hái búp nhưng không bón phân cho gốc chè) làm năng suất chè giảm từ 17 tấn/ha/năm xuống còn 13 tấn/ha/năm. Nay thấy công ty có cơ chế liên kết sản xuất chè tập trung, giá thu mua chè nguyên liệu ổn định 5.000 đồng/kg, chị đã lấy lại vườn chè để tham gia liên kết.

Chị Trịnh Thị Hải Yến, đội phó phụ trách nông nghiệp đội 16 cho biết, cơ chế liên kết mới không ngoài 3 mục đích là kinh tế, môi trường và lợi ích cộng đồng. Thực hiện được mối liên kết này sẽ xóa bỏ sản xuất manh mún (riêng lẻ từng hộ làm chè) sang sản xuất hàng hóa tập trung có cùng lợi ích đối với doanh nghiệp và người làm chè. Hiện trong đội có 78 hộ có vườn chè, thì có 53 hộ tham gia với tổng số 32,3 ha. 

Người trồng chè yên tâm về đầu ra

Nêu rõ lợi ích\của người làm chè, anh Trần Văn Tuấn, Trưởng Phòng Nông nghiệp, Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm nhấn mạnh, nếu trước đây, hộ nhận khoán đảm nhiệm 16 cung đoạn của quá trình sản xuất thì nay theo cấu trúc mới, hộ nhận khoán chỉ đảm nhận 50% cung đoạn sản xuất (vệ sinh vườn chè, phát hiện sâu bệnh, làm cỏ, cào lấp đất sau khi bón phân…). Phía nhà máy thực hiện các khâu nâng cao năng suất và chất lượng nguyên liệu (đốn chè đúng kỹ thuật, đầu tư phân bón, dịch vụ phun thuốc bảo vệ thực vật, giao nhận vận chuyển chè nguyên liệu...). 


Chăm sóc chè đầu vụ 2017 ở Công ty Chè Mỹ Lâm.

Vì sao không hợp đồng 100% hộ nhận khoán theo cấu trúc mới? - Chúng tôi hỏi. Anh Tuấn cho biết, do 4 nguyên nhân cản trở là tiêu chí vườn chè; năng lực quản lý của đội trưởng; nhận thức của hộ nhận khoán và nguồn vốn. Chỉ riêng về vườn chè năng suất dưới 10 tấn/ha tham gia liên kết khi trừ chi phí sẽ không đảm bảo thu nhập của người làm chè nên công ty vận động hộ nhận khoán phá bỏ chè cũ để trồng lại. Về nguồn vốn của doanh nghiệp hạn hẹp, thực hiện liên kết theo cấu trúc mới công ty phải đầu tư lớn phân bón để nâng cao năng suất chè và chi trả các khâu dịch vụ sản xuất.

Người làm chè lấy công làm lãi, nhà máy đảm nhận 1 phần việc của họ, thu nhập làm chè sẽ giảm thế nào? Anh Trần Văn Quý, Giám đốc công ty giải thích vấn đề trên bằng bài toán đơn giản dễ hiểu. Đó là người làm chè đảm nhận toàn bộ cung đoạn sản xuất bán chè búp tươi theo giá thị trường 3.500 đồng/kg, còn tham gia liên kết chỉ phải thực hiện 1/2 công việc, giá bán chè búp tươi 5.000 đồng/kg. Lợi ích thiết thực cho người làm chè là tăng thu nhập 40% so với cách làm cũ. Không phải bỏ chi phí đầu tư mà đầu ra cho sản phẩm chè được ổn định, giá bán cao hơn các hộ không liên kết. Tăng sản lượng cho đầu tư, chăm sóc thu hái đúng tiêu chuẩn. Vườn chè khỏe mạnh, ít sâu bệnh mà lại giảm 50% chi phí thuốc bảo vệ thực vật và giảm 25% chi phí đốn hái. Thêm vào đó, vùng chè được đảm bảo môi trường, không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người làm chè. Nhờ hiệu quả liên kết cấu trúc mới mang lại, năm 2016 doanh nghiệp làm thí điểm có 90 hộ ở 2 đội sản xuất tham gia với 100 ha chè nhưng năm 2017 đã tăng lên 250 hộ ở 6 đội sản xuất với 250 ha chè, chiếm 60% diện tích chè công ty quản lý. 

Nâng cao hiệu quả sản xuất, đời sống người làm chè được cải thiện

Anh Lê Quang Chuyền, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm khẳng định, mọi công việc trên không ngoài mục đích: Nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm xuất khẩu. Có xuất khẩu được sản phẩm sang thị trường khó tính, mới có điều kiện nâng giá thu mua nguyên liệu chè búp tươi. Tái cấu trúc trong mối liên kết công - nông chính là vì lợi ích kinh tế gắn với các tiêu chí về môi trường, sức khỏe cộng đồng và xã hội. Khi phân công lao động hợp lý hơn trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗi bên và người nông dân vẫn là chủ thể trực tiếp quản lý tư liệu sản xuất và hưởng lợi thành quả của mình. Với doanh nghiệp tăng chất lượng, tăng giá trị sản phẩm chè để xuất khẩu chính là nhằm nâng giá thu mua nguyện lên 10% đối với hộ nhận khoán. Sản phẩm chất lượng, nguồn gốc nguyên liệu rõ ràng, thị trường mở rộng tạo đà cho sản xuất phát triển. 

Được biết, Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm là doanh nghiệp chè đầu tiên trong cả nước tham gia chương trình phát triển nông nghiệp bền vững và áp dụng hệ thống truy cập nguồn gốc nguyên liệu (COC). Trên lĩnh vực nông nghiệp, diện tích chè hiện có 412 ha, năng suất vườn chè bình quân đạt 16 tấn/ha đều đạt chứng chỉ Rainforest Alliance. Trong công nghiệp, công ty có 2 xưởng chế biến, một xưởng có 5 dây chuyền sản xuất chè đen theo công nghệ CTC, công suất 60 tấn búp tươi/ngày; 1 xưởng sản xuất chè xanh Sencha, công suất 12 tấn búp tươi/ngày. Cả hai xưởng sản xuất chế biến chè của công ty các sản phẩm đều đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và quản lý của Tập đoàn chè thế giới. Sản phẩm chè đen của công ty đạt sản lượng mỗi năm trên 2.000 tấn; sản phẩm chè xanh đạt 250 tấn. Trong đó, có 80% sản phẩm được thị trường Trung đông, ASEAN và Mỹ tiêu thụ; 20% sản phẩm phẩm sang thị trường EU và Nhật Bản. 

Doanh thu hàng năm của công ty đạt trên 80 tỷ đồng với gần 900 lao động (694 người làm nông nghiệp, 180 người làm công nghiệp và 22 người làm gián tiếp) mức thu nhập bình quân đạt 5,5 triệu đồng/người/tháng. Đây là doanh nghiệp đầu tiên của Tuyên Quang sắp xếp lại sản xuất trong lĩnh vực liên kết nông nghiệp với công nghiệp trong chương trình tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh. Với hướng đi đúng, cách làm sáng tạo, lấy lợi ích của người lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh làm mục tiêu hoạt động, doanh nghiệp đã được tỉnh và bộ ngành Trung ương đánh giá cao. 

Bài, ảnh: Duy Hùng

Tin cùng chuyên mục