Tiếng việt | English

Tập trung giải quyết những kiến nghị, đề xuất của người dân tái định cư

- Trong quá trình thực hiện Dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang, tỉnh đã nhận được các ý kiến, kiến nghị của các hộ di dân tái định cư. UBND tỉnh tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan làm việc với từng điểm, khu tái định cư để kiểm tra, xác minh làm rõ từng nội dung kiến nghị, phản ánh và trả lời nhân dân theo đúng quy định của pháp luật. Báo Tuyên Quang có bài phỏng vấn đồng chí Nguyễn Văn Định, Giám đốc Ban Di dân, tái định cư Thủy điện Tuyên Quang về vấn đề này.

Đường giao thông khu tái định cư Tân Lập, thị trấn Na Hang (Na Hang) được xây dựng khang trang.   Ảnh: Thành Công

Phóng viên: Xin đồng chí cho biết việc triển khai chi trả chế độ đền bù theo Nghị định số 22/NĐ-CP, ngày 24-4-1998 của Chính phủ như thế nào?

Đồng chí Nguyễn Văn Định: Để đảm bảo quyền lợi cho người dân thuộc đối tượng tái định cư thủy điện Tuyên Quang được hưởng chính sách tốt hơn so với chính sách chung về bồi thường giải phóng mặt bằng theo Nghị định số 22/NĐ-CP, ngày 24-4-1998 của Chính phủ, ngày 20-8-2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 937/QĐ-TTg quy định tạm thời về bồi thường, tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang. Tiếp đó, ngày 4-6-2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 675/QĐ-TTg về việc sửa đổi tên Quyết định và sửa đổi một số điều của Quyết định số 937/QĐ-TTg, ngày 20-8-2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định tạm thời về bồi thường, tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang.

Phóng viên: Các hộ dân tái định cư đề nghị được đền bù thống nhất một giá đền bù đất nơi ở cũ. Bởi người dân thắc mắc một số hộ bồi thường giá thấp, một số hộ được bồi thường giá cao. Vậy, việc bồi thường được triển khai ra sao thưa đồng chí?

Đồng chí Nguyễn Văn Định: Việc bồi thường về đất thực hiện theo Điều 7, Quyết định số 937/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. UBND tỉnh quy định cụ thể tại Điều 3, Quyết định số 309/QĐ-UBND như sau: “Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được bồi thường về đất tại thời điểm nào thì giá đất để tính bồi thường là giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm đó”.

Do số dân phải di chuyển tái định cư lớn, thực hiện trong một thời gian dài nên có thôn di chuyển trước, có thôn di chuyển sau theo kế hoạch, tiến độ xây dựng nhà máy thủy điện. Căn cứ kế hoạch di chuyển tái định cư của từng thôn, UBND tỉnh phê duyệt dự toán bồi thường hỗ trợ để thanh toán cho các hộ trước khi di chuyển. Đất ở và đất sản xuất của hộ tái định cư thủy điện Tuyên Quang được bồi thường bằng hình thức cấp đất tại nơi tái định cư; giá đất để tính giá trị đất bồi thường và giá trị đất được cấp thực hiện theo giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường.

Phóng viên: Các hộ dân tái định cư đề nghị bồi thường về đất và tài sản trên đất cho các trường hợp sử dụng đất trước ngày 15-10-1993 mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bồi thường về đất cho các hộ dân tái định cư đã bị thu hồi đất nhưng chưa được bồi thường. Đồng thời, đền bù 100% tài sản trên đất đối với các hộ mới được nhận 80%. Tỉnh đã triển khai như thế nào thưa đồng chí?

Đồng chí Nguyễn Văn Định: Toàn bộ đất của hộ tái định cư tại nơi đi, có trong hồ sơ kiểm kê nếu đủ điều kiện bồi thường theo quy định của Chính phủ đều được bồi thường theo đúng quy định tại Điều 6, Quyết định số 937/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Hộ tái định cư có công trình kiến trúc trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất, được UBND tỉnh phê duyệt hỗ trợ 80% giá trị tài sản theo đúng quy định tại Điều 8, Quyết định số 937/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phóng viên: Các hộ dân tái định cư đề nghị được đền bù đất vườn rừng, đất vườn liền kề, bởi hiện nay người dân mới được hỗ trợ 50.000 đồng/ha/năm. đồng chí cho biết thêm về nội dung này?

Đồng chí Nguyễn Văn Định: Đất vườn rừng của các hộ di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang đã được kiểm kê và có sổ lâm bạ kèm theo là đất được UBND xã giao khoanh nuôi bảo vệ (theo sổ lâm bạ), không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 6, Quyết định số 937/QĐ-TTg, ngày 20-8-2003 của Thủ tướng Chính phủ, nên không được bồi thường. Hộ tái định cư được hỗ trợ công khoanh nuôi, bảo vệ rừng 100.000 đồng/ha/năm, theo số năm và diện tích rừng đã bảo vệ theo quy định tại Quyết định số 309/QĐ-UBND, ngày 7-8-2007 của UBND tỉnh Tuyên Quang.

Đất vườn liền kề của hộ tái định cư đã được kiểm kê và đủ điều kiện bồi thường, UBND tỉnh Tuyên Quang đã phê duyệt bồi thường đúng theo đơn giá quy định của Nhà nước tại thời điểm bồi thường.

Phóng viên: đồng chí giải thích về mức hỗ trợ tại 2 công văn của UBND tỉnh (Công văn số 910/UB-KTTH, ngày 1-7-2003; Công văn số 1788/UB-KTTH, ngày 30-9-2003). 

Đồng chí Nguyễn Văn Định: Trong khi chờ Chính phủ ban hành quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang, để đảm bảo tiến độ ngăn sông xây dựng công trình theo chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh ban hành một số văn bản cá biệt để phục vụ bồi thường di dân, tái định cư (trong đó có Công văn số 910/UB-KTTH, ngày 1-7-2003). Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 937/QĐ-TTg và Quyết định số 675/QĐ-TTg, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 309/QĐ-UBND, ngày 7-8-2007 và bãi bỏ toàn bộ các văn bản cá biệt trước đây. Toàn bộ dự toán bồi thường, hỗ trợ cho các hộ tái định cư đều được phê duyệt lại theo quy định tại Quyết định số 309/QĐ-UBND đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho các hộ di dân tái định cư và thống nhất về chính sách bồi thường, hỗ trợ cho toàn bộ các hộ di dân tái định cư thuộc Dự án thủy điện Tuyên Quang.

Tại Điều 5, Quyết định số 309/QĐ-UBND, ngày 7-8-2007 của UBND tỉnh có quy định việc bồi thường thiệt hại về nhà ở được thực hiện theo 2 cách:

“1. Bồi thường thiệt hại về nhà ở theo nhân khẩu hợp pháp để hộ tự làm nhà ở theo quy định tại điểm b, c khoản 1 và khoản 2, 3, 4, Điều 9, Quyết định 937/QĐ-TTg như sau: Hộ có 6 nhân khẩu trở lên mức bồi thường xây dựng nhà là 7.626.384 đồng/nhân khẩu; hộ có từ 3 đến 5 nhân khẩu là 8.544.840 đồng/nhân khẩu; hộ độc thân hoặc hộ có 2 nhân khẩu là 22.762.500 đồng/nhân khẩu.

2. Bồi thường về nhà ở theo thực tế thiệt hại quy định tại khoản 4, Điều 3, Quyết định số 675/QĐ-TTg: Chủ đầu tư căn cứ vào diện tích, cấp, loại nhà ở thực tế tại nơi đi của hộ và đơn giá tại Điều 6, Quyết định này để bồi thường. Ngoài ra mỗi nhân khẩu hợp pháp trong hộ được hỗ trợ thêm một khoản tiền để làm nhà tại nơi ở mới là 7.000.000 đồng/nhân khẩu”.

Thực tế, việc bồi thường, hỗ trợ về nhà ở các hộ tái định cư được phê duyệt theo phương án tại khoản 2, Điều 5, Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 309/QĐ-UBND, ngày 7-8-2007 của UBND tỉnh. Toàn bộ các hộ tái định cư đều được bồi thường về nhà ở theo diện tích và cấp, loại nhà thực tế theo hồ sơ kiểm kê, đồng thời còn được hỗ trợ thêm 7.000.000 đồng cho mỗi nhân khẩu hợp pháp để làm nhà tại nơi tái định cư.

Phóng viên: Các hộ dân tái định cư đề nghị xem xét việc thực hiện chính sách đối trừ đất giữa đầu đi và đầu đến. Tỉnh đã thực hiện ra sao thưa đồng chí?

Đồng chí Nguyễn Văn Định: Thực hiện Dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang để kịp thời và có chính sách đặc thù đảm bảo quyền lợi cho người dân tái định cư, ngày 20-8-2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 937/QĐ-TTg quy định tạm thời về bồi thường, tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang. Theo quy định tại khoản 1, Điều 7, Quyết định số 937/QĐ-TTg, ngày 20-8-2003 của Thủ tướng Chính phủ: “Nếu giá trị đất được cấp thấp hơn giá trị đất bị thu hồi thì hộ được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch; nếu giá trị đất được cấp cao hơn giá trị đất bị thu hồi thì hộ không phải bù phần giá trị chênh lệch đó”.

Theo quy định tại Điều 10, Nghị định số 22/NĐ-CP, ngày 24-4-1998 của Chính phủ: “Trường hợp đất ở bị thu hồi nhỏ hơn diện tích đất được đền bù, người được đền bù phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất chênh lệch đó...”. Như vậy, theo quy định tại khoản 1, Điều 7, Quyết định số 937/QĐ-TTg, ngày 20-8-2003 của Thủ tướng Chính phủ người dân thuộc đối tượng tái định cư thủy điện Tuyên Quang được hưởng chính sách tốt hơn so với chính sách chung về bồi thường giải phóng mặt bằng theo Nghị định số 22/NĐ-CP, ngày 24-4-1998 của Chính phủ.

Tại Văn bản số 2145/UBND-TĐ, ngày 25-8-2006 của UBND tỉnh có ghi: “Giá đất bồi thường nơi đi được duyệt ở thời điểm nào, thì giá đất để tính giá trị đất được cấp nơi đến được tính theo giá quy định tại thời điểm đó. Nếu giá trị đất được cấp nơi đến thấp hơn giá trị đất bị thu hồi nơi đi thì hộ được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch đó. Nếu giá trị đất được cấp nơi đến cao hơn giá trị đất bị thu hồi nơi đi thì hộ bị thu hồi không phải bù phần giá trị chênh lệch đó”. Tại Văn bản số 1337/UBND-TĐ, ngày 13-6-2007 của UBND tỉnh có ghi: “Giá trị đất để cân đối bù trừ chênh lệch giữa nơi đi và nơi đến được xác định đất ở riêng, đất nông nghiệp riêng (đất ở nơi đi cân đối bù trừ với đất ở nơi đến, đất nông nghiệp nơi đi cân đối bù trừ với đất nông nghiệp nơi đến); các nội dung khác thực hiện theo đúng chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 2145/UBND-TĐ, ngày 25-8-2006”.

UBND các huyện, thành phố nơi tiếp nhận tái định cư đã phê duyệt dự toán đối trừ đất đến từng hộ tái định cư, dự toán này đã được công khai đến từng hộ dân và các hộ dân đã nhận đủ phần giá trị đất tại nơi tái định cư.

Phóng viên: Xin cảm ơn đồng chí!                            

(Thực hiện: Thùy Linh)

Tin cùng chuyên mục