Tiếng việt | English

Mùa cam gọi về

TQĐT - Từ khi cây cầu cứng bằng bê tông cốt thép vươn sang Khu công nghiệp Tân Thành, thì dòng sông Lô đoạn trên bến đò Thuốc Thượng không còn bị chia cắt đợi chờ nữa. Chiều chiều tôi thường đứng trên cây cầu lớn, tay nắm vào thành lan can mát rượi, ngước lên phía thượng nguồn, núi non nhấp nhô sương giăng huyền ảo, hoặc phóng tầm mắt về cuối hạ lưu.

Ảnh minh họa

Dòng sông Lô lấp lánh dưới ánh mặt trời thật đẹp, gió ngàn ngạt khiến mặt sông nổi sóng như dát bạc. Đôi bờ là soi bãi, ruộng vườn phì nhiêu, cây cối tốt tươi, thảm lá xanh của vườn cây lưu niên: Mít, nhãn, vải... xum xuê, che mát cả một vùng. 

Từ ngày có cây cầu lớn, những người dân quê tôi sống bằng nghề chèo đò đưa khách đã chuyển nhanh sang cách làm ăn khác. Con phà cũ kỹ được tháo dỡ chở đi đâu không hay, còn những con đò có người giữ lại để đánh cá, vớt củi vào lúc nước lên, hoặc bán lại cho ai đó. Mừng có cây cầu mới, song trong lòng tôi vẫn vời vợi một nỗi niềm, gợi nhất là lúc con đò dập dềnh trên mặt sóng mùa nước lũ, tiếng gọi: Đò ơi... bạt trong gió chiều mưa, hơn thế, là lúc gặp em tay xách nách mang,  mắm muối gạo đỗ... trở về trường vào chiều chủ nhật. Tôi luống cuống đỡ từng gói to, gói nhỏ, nắm bàn tay em ở đoạn bờ sông dốc đứng, cứ như thế để con tim mình đập loạn nhịp như trống trận...

Năm 1966, 1967 đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc bằng lực lượng không quân hiện đại rất ác liệt, ngôi trường cấp III của chúng tôi sơ tán về Làng Liệu, được dựng lên bằng cây rừng, tranh tre, nứa lá, công sức thầy trò làm nên, tuy sơ sài nhưng ấm cúng, tình thầy trò là tình thương yêu, ruột thịt trong sáng đến thánh thiện, những lớp học khuất dưới bóng rừng cổ thụ, có hào giao thông và hầm chữ A đề phòng bom Mỹ, chiếc Hồ Khởn rộng dài từ Cao Đà về mãi Thái Sơn, trong xanh, lắm tôm nhiều cá. Vào lúc rảnh rỗi, chúng tôi hay lần mò bắt cua, ốc, trai, hến... để cải thiện bữa ăn, còn học sinh thì ở nhờ gia đình đồng bào khai hoang từ Ninh Bình lên vào những năm 1960. 

Máy bay của Mỹ thường xuất phát từ Cò Rạt, Gu Am hay từ tầu sân bay ở Biển Đông cứ từng tốp 3 cái, 7 cái, 9 cái  nhằm thủ đô Hà Nội để đánh phá, bầu trời miền Bắc không một ngày vắng tiếng gầm rú của phản lực Mỹ, tiếng pháo phòng không của ta đánh trả, chừng ngót 1 tiếng đồng hồ thì thấy chúng quay lại, lúc này đội hình không còn nguyên vẹn, có thể nói là một cuộc tháo chạy tan tác, chiếc nào trên đường về mà còn bom, chúng ném xuống bất cứ làng bản nào, chẳng cần mục tiêu quân sự nữa.

Làng tôi cũng là một trong những tọa độ để máy bay Mỹ trút bom trên đường trở về căn cứ. Tôi nhớ mãi vào một ngày tháng bảy, lúc đó khoảng 2 giờ chiều, tôi chứng kiến máy bay Mỹ ném 2 quả bom bi mẹ xuống làng, mấy quả bom tấn xuống 2 cây cầu 31 và 37, cả làng, xã nhốn nháo ngược xuôi cứu người bị nạn.

Trâu bò dính mảnh bom rống lên thảm thiết, lợn gà, chó mèo nháo nhác tan tác, chúng tôi tham gia vào việc cứu dân, khiêng cáng những bà con bị thương nặng lên huyện, tìm kiếm một chút tài sản còn sót lại trong đống đổ nát, lo mai táng những người xấu số... Trên Quốc lộ 2 hằng đêm ì ầm tiếng xe tải chở vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm từ hướng Hà Giang về. Tôi biết chiến tranh đã lan ra cả miền núi biên giới mỗi ngày càng trở nên khốc liệt hơn.

Trước ngày về huyện tập trung vào bộ đội, tôi sang sông để chia tay em. Chúng tôi đi trong vùng cam vàng rực, lá cành đan trên đầu, cam chi chít óng ả như sao sa. Những quả cam mã mật vàng sậm, có cảm giác chạm vào là ứa nước thơm ra lớp vỏ. Em bóc quả cam đầu cành mời tôi: Anh đi nhớ viết thư về cho em, ngày anh ra mặt trận vào mùa cam chín không hiểu có gợi gì trong anh không? Tôi nói miên man, vòng vo rất nhiều chuyện nhằm động viên em ở lại, chứ thực ra chiến tranh, hòn tên mũi đạn biết thế nào?. Tôi mang cả tình em và mùa cam chín ra mặt trận.

Nhiều lúc nhớ em, nhớ quê tôi tự hỏi: Phải chăng sự sống khởi nguồn từ những dòng sông, phù sa cho bờ xôi bãi mật, nơi tình yêu cuộc sống bắt đầu của mỗi đời người, của làng, rộng nữa là quê hương đất nước. Vào mùa cam chín đi đến đâu ai cũng tấm tắc: Cam sành Hàm Yên đấy, người sành ăn còn nhận ra mùi vị màu sắc, nghe mà mát lòng mát dạ. Gia đình chúng tôi sống bằng nghề trồng cam, nhà em có lô cam ngót 5.000 gốc, nhà tôi cũng không kém, đây là nghề truyền thống lâu đời được đúc rút và có kinh nghiệm, đời sống từ cây cam mang lại nào là: Dựng nhà, cưới vợ, học hành, mua sắm ti vi, xe máy... đều từ cây cam mà ra.

Vào mùa thu hoạch cam, cả làng, xã nhộn nhịp như ngày hội, nhưng khổ một nỗi là thiếu lao động, thuê mướn thì chẳng ai nhận vì đò giang cách trở nặng nhọc. Chúng tôi chuyển hàng tấn cam xuống gần mép nước, khi đã chất đầy lòng khoang con thuyền lặng lẽ, chòng chành sang sông. Nắng chiều lấp lánh trên mặt nước, rét như cắt da cắt thịt, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền, có cái gì xa xăm, vời vợi thật khó diễn tả. Dòng sông này vào mùa lũ thật khủng khiếp, nước xiết như thể đàn ngựa bất kham dựng bờm trắng xóa cuốn phăng mọi thứ, nhấn chìm mọi thứ.

Còn bây giờ nó lững lờ trôi thật hiền hòa thơ mộng. Từ trên thượng lưu xuống hạ lưu cuối tầm mắt là những đồi cam trải dài vàng rực, nó như bức tranh quê tả thực thời Phục Hưng... Con thuyền cập bến, chúng tôi lại lặc lè từng sọt cam nặng chuyển lên bờ, chuyển tiếp ra đường quốc lộ, rồi thuê công nông về huyện, vì cam có chất lượng, mẫu mã đẹp, thường là gia đình chúng tôi không đủ cam để bán. Em lau mồ hôi đầm đìa trên gương mặt: Giá mà có cây cầu cứng bắc qua sông ở đoạn này thì thật hạnh phúc, mùa cam chín cứ thuê xe tải ghé đuôi vào bớt được bao nhiêu mồ hôi công sức...

Thế rồi miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Tôi trở về quê lòng mang đầy tâm trạng. Mừng là mẹ được ông trời cho thêm gần chục tuổi thọ, song cũng lo một nỗi là mẹ già yếu quá rồi, cứ nhìn cách đi đứng, ăn uống thì biết. Mùa xuân rét ngọt và trời nắng nhẹ, cả vùng cam mênh mông, rung rinh, ngan ngát màu hoa trắng, ong bay về lấy phấn hoa nhiều vô kể. Mẹ bảo cứ nhìn trời đất thế này năm nay chắc chắn sẽ được mùa cam lớn. Tôi ngẩn ngơ nhìn ngắm vườn cam tơ vừa mừng vừa tiếc nuối. Vườn cam nhà tôi ngày trước có rất nhiều cây lưu niên tán xòe rộng bằng nửa cái sân gạch, tôi thường hay trải chiếu, đọc sách dưới bóng mát.

Vào mùa quả, cành la, cành bổng không chịu được sức nặng, chúng tôi phải lấy cây rừng chống từng cành lên, có những cây thu ngót 500 cân quả. Mẹ bảo đây là vườn cam mới được cải tạo, giống mới, ngọt thanh, năng suất cao. Rồi mẹ nói thêm: Cây cam kỹ tính lắm, điều quan trọng là nó cũng cần cái tình của con người. Chẳng thế mà tôi thấy mẹ cả ngày thơ thẩn ngoài vườn cam trừ rệp, bắt nhện đỏ, sâu mốc... thu hoạch xong rẫy cỏ, xới đất, phân mùn, rơm rạ, pha nước vôi đặc quét vào từng gốc.

Niềm mơ ước của em ngày nào giờ đã thành hiện thực. Mỗi sớm, mỗi chiều dòng người, xe tấp nập qua lại trên cây cầu lớn. Cuối năm những chiếc xe tải nối đuôi nhau chở đầy cam sang huyện, về thành phố tiêu thụ. Khu công nghiệp Tân Thành đang hiện hình vóc dáng, là hình ảnh mới của quê hương trên con đường hiện đại hóa, công nghiệp hóa.

Bến đò Thuốc Thượng và dòng nước vơi đầy ngày trước bây giờ chỉ còn trong ký ức của chúng tôi mà thôi, nhưng nó là kỷ niệm rất đẹp, nên thơ đã cho chúng tôi sức mạnh, tình yêu đi dài rộng trên con đường quê hương. Vào mỗi mùa cam chín, ở phía bờ Đông con sông Lô, tôi biết có người giấu kín trong lòng nhiều nỗi niềm, ánh mắt đăm đắm khao khát nhìn sang phía bên này và dòng sông vẫn không ngừng chảy...      

Bút ký Cao Xuân Thái

Tin cùng chuyên mục