Vẻ đẹp trong thơ song ngữ Tày - Việt

TQĐT - Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Tày có nền văn hóa phong phú, độc đáo. Nếu như người Kinh có kho tàng truyện cổ dân gian, dân ca, hò vè thì người Tày cũng có một thế giới truyện cổ, câu đố, Phong slư, Then, Cọi… Trong đó, những tác phẩm thơ song ngữ Tày - Việt là một kho tàng văn hóa phong phú, theo thời gian mạch nguồn sáng tác vẫn tuôn chảy bắt nhịp đời sống hiện đại.

Thơ của các nhà thơ người dân tộc thiểu số người Tày xứ Tuyên đa diện, phong phú và tạo được nhiều dấu ấn đậm nét. Hiện nay, có nhiều tác giả sáng tác thơ song ngữ Tày - Việt như: Tống Đại Hồng, Ma Văn Đức, Hà Tuấn Đôn, Hà Thuấn, Nguyễn Đôn, Trịnh Thứ… Nhiều tác phẩm được đăng trên các trang báo Trung ương, Báo Tân Trào, in chung thành tập sách.


Tác giả Ma Văn Đức và Tống Đại Hồng giới thiệu về thơ song ngữ Việt - Tày cho thế hệ trẻ.

Chủ đề sáng tác thơ Tày khá phong phú, trong đó xuyên suốt là mạch nguồn xúc cảm về tình yêu quê hương, làng bản với cách cảm, cách nghĩ, cách nói của người miền núi, lối tư duy theo mạch thẳng, dễ hiểu và thân thuộc. Câu thơ người Tày thường dài, gồm có 7 chữ, thường được gọi là “Thất ngôn trường thiên”. Từ Then, Cọi hay văn quan làng đều xuất phát từ những câu vần vè 7 chữ. 

Kế thừa và phát huy giá trị thơ truyền thống, tác giả Ma Văn Đức sáng tác nhiều bài thơ có độ dài tương tự để biểu đạt cảm xúc riêng. Ông chia sẻ, làm thơ Tày cũng như làm thơ Việt cần sự chọn lựa hình ảnh và chắt lọc từ ngữ để tạo nên những vần thơ có sức gợi. Chẳng hạn để thể hiện cung bậc tình cảm nhớ nhung thì người Việt có thể dùng nhiều từ để thể hiện như nhớ da diết, nhớ cuồng nhiệt, mãnh liệt... Còn trong ngôn ngữ người Tày thì lựa chọn cách nói giản đơn như: “chứ lai” (nhớ nhiều). Ở đây tác giả đã biết chọn lọc ngôn từ và gieo vần hợp lý: “Chứ lăng chứ lọi lọi”, dịch sát nghĩa là: “Nhớ gì mà nhớ nhiều nhiều đến thế” hay “Nhớ gì mà quặn lòng da diết”.

Nhiều tác giả lựa chọn cách diễn đạt bằng hình ảnh trực quan sinh động, theo cách cảm, cách nghĩ đồng bào dùng sự vật thân quen gần gũi liên tưởng cảm xúc của mình. Trong bài “Chứ bản” (Nhớ bản), Tống Đại Hồng có viết: “Cần hâu chứ bản tay lầu/Chứ bặng me lúc cáy cầu chứ căn/Chứ Pù Thân nộc kéo khăn/Chứ nặm Khuổi Giác khừn vằn vận luây”, dịch: “Có ai nhớ bản bằng ta/Nhớ như ổ mẹ con gà nhớ nhau/Núi thần rít rít sáo nâu/Nhớ lũ Khuổi Giác đỏ ngầu phù sa”.


Học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS Na Hang tìm đọc sách về thơ song ngữ. 

Không theo thể thơ 7 chữ truyền thống, Tống Đại Hồng thử nghiệm sáng tác thơ Tày ở nhiều thể loại như thơ lục bát, thơ 8 chữ, thơ tự do và đã có nhiều bài thơ tạo dấu ấn. Điển hình như: Chứ bản (Nhớ bản), Lo Tết, Thưởn Pi (Tất niên), Pẻng hó Tết (Bánh chưng Tết), Điện mà bản (Điện về bản)... Ông chia sẻ: “Ngôn ngữ Tày có vẻ đẹp riêng thiên về cách cảm, cách nghĩ gần gũi, dễ hiểu dễ nhớ. Việc sáng tác thơ Tày nhiều thể loại nhằm biểu đạt rõ hơn cảm xúc đó”. Trong bài thơ Piác căn (Chia ly) tác giả dùng thể 8 chữ để gửi tới người yêu thương: “Piác noọng chài tao khửn đuổi pù/Toọng piấu lứng thâng thút bôn quẹng líu/Đét mo đắp chang đông bang lỉu lỉu/Pế cắm ha vằn líp lí kỷ pieo puồn”, dịch: “Chia tay em anh trở lại với rừng/Lòng trống trải đến tận cùng hoang vắng/Chiều sơn cước nhạt nhòa ánh nắng/Biển tím hoàng hôn le lói những tia buồn”.

Những câu chữ giàu hình ảnh được chắt lọc qua những tâm hồn đồng điệu yêu thích văn hóa Tày. Các tác phẩm đã phần nào thể hiện được sự giàu đẹp, hấp dẫn của ngôn ngữ Tày. Hy vọng trong thời gian tới, tác giả xứ Tuyên tiếp tục cho ra mắt nhiều tác phẩm thơ song ngữ của người Dao, Cao Lan, Nùng, Mông... tạo nên bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc các dân tộc.

Bài, ảnh: Hoàng Niềm

Tin cùng chuyên mục