Kỳ 2: Khi thanh xuân “chảy” về phố thị
![]() |
Sự tỏa sáng của những “KOL áo xanh” đã thắp lên hy vọng mới: Người trẻ hoàn toàn có thể lập nghiệp ở quê nhà, làm giàu bằng tri thức số và giá trị văn hóa bản địa. Nhưng đó chưa phải là bức tranh toàn cảnh. Bên cạnh những người chọn ở lại, vẫn có hàng nghìn thanh niên lặng lẽ rời bản làng tìm sinh kế nơi phố thị. Những chuyến xe ly hương mang theo khát vọng đổi đời của tuổi trẻ nhưng cũng để lại phía sau nhiều khoảng trống khó lấp đầy.
![]() |
Toàn tỉnh hiện có hơn 310.000 thanh niên, trên 80.000 đoàn viên sinh hoạt tại gần 6.000 chi đoàn, trong đó có 3.696 chi đoàn thôn, tổ dân phố. Nhưng phía sau lực lượng đông đảo ấy là một nghịch lý: Đoàn viên vẫn đủ trên danh sách quản lý, còn ở cơ sở, nhiều chi đoàn lại thường xuyên rơi vào cảnh “thiếu quân” khi triển khai các phong trào.
Bức tranh ấy hiện lên rõ nét ở nhiều địa phương. Tại xã Khuôn Lùng, 63% thanh niên đi học, đi làm xa; tỷ lệ này ở xã Đường Hồng là 57,8% và xã Hoàng Su Phì là 55,3%. Khi phần lớn lực lượng nòng cốt vắng mặt, việc tập hợp đoàn viên và duy trì các phong trào thanh niên ngày càng trở nên khó khăn.
![]() |
“Bất cứ chương trình, phần việc nào ở cơ sở cũng cần thanh niên làm lực lượng xung kích. Nhưng khi phần lớn đoàn viên đi học, đi làm xa, việc huy động nhân lực ngày càng khó. Không ít phần việc vốn thuộc về sức trẻ nay lại đặt lên vai lớp trung niên và người cao tuổi”, Bí thư Đoàn xã Khuôn Lùng Hoàng Văn Thực trăn trở.
Từng có gần một thập kỷ làm thủ lĩnh Đoàn ở vùng cao, trực tiếp kết nối xây dựng hơn 220 căn nhà, gần 40 công trình phúc lợi cho đồng bào dân tộc thiểu số, anh Nguyễn Tất Thắng (xã Mỹ Bằng) thấu hiểu hơn ai hết sự thiếu hụt của lực lượng thanh niên ở cơ sở.
![]() |
Anh Thắng kể, công trình xây cầu, mở đường vào thôn Khuổi Trông (xã Ngọc Đường) khởi công từ tháng 4-2026. Tuyến đường dài 1,3 km với tổng kinh phí hơn 900 triệu đồng được huy động hoàn toàn từ nguồn xã hội hóa nhằm thay thế con đường đất lầy lội mỗi mùa mưa, giúp người dân đi lại và vận chuyển nông sản thuận lợi hơn. Để hoàn thành công trình, nhân dân trong thôn đã đóng góp gần 1.000 ngày công lao động. Thế nhưng, suốt quá trình thi công, mỗi ngày chỉ lác đác 2 - 3 thanh niên tham gia. Phần lớn việc nặng như vận chuyển vật liệu, trộn bê tông lại đặt lên vai những người đã ngoài 50, 60 tuổi.“Nếu mỗi ngày huy động được khoảng 10 thanh niên thì chỉ sau chừng hai tháng công trình đã có thể hoàn thành. Nhưng vì thiếu sức trẻ, tiến độ cứ kéo dài, dự kiến đến tháng 7 mới có thể khánh thành. Thiếu kinh phí còn có thể vận động, chứ thiếu thanh niên thì thật sự rất khó bù đắp”, anh Thắng trăn trở.
![]() |
![]() |
Khoảng trống sức trẻ ở vùng cao không chỉ hiện hữu qua những bản làng vắng thanh niên, mà còn bộc lộ rõ trong đội ngũ “giữ lửa” phong trào ở cơ sở.
Sau khi thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy và kết thúc hoạt động của đội ngũ bán chuyên trách, tổ chức Đoàn đối mặt với sự hụt hẫng lớn về nhân lực. Toàn tỉnh hiện có 56 Phó Bí thư Đoàn xã nghỉ theo chế độ tinh giản biên chế; 113/124 xã phải bố trí chức danh này theo hình thức kiêm nhiệm và 11 xã khuyết chức danh. Nhìn lớp cán bộ am tường công tác đoàn lần lượt rời đi, Phó Bí thư Tỉnh đoàn Hoàng Thế Hanh không giấu được sự tiếc nuối: “Đây thực sự là một tổn thất lớn của tổ chức Đoàn”.
![]() |
Thực tế ấy đẩy những người ở lại vào thế “lực mỏng, vai nặng”. Sáp nhập địa giới khiến không gian quản lý rộng, buộc nhiều thủ lĩnh Đoàn phải gánh “vai kép”. Điển hình như anh Hoàng Văn Hòe, Trưởng thôn kiêm Bí thư Chi đoàn thôn Nguyên Thành (xã Khuôn Lùng); anh Thào Mí Nô, Bí thư Chi bộ kiêm Bí thư Chi đoàn thôn Đề Đay (xã Đồng Văn) hay chị Lý Thị Nhàng, Trưởng thôn kiêm Bí thư Chi đoàn thôn Bản Luốc (xã Hoàng Su Phì)…
Chị Quan Hồng Gấm, Phó Bí thư Đoàn xã Đồng Văn thẳng thắn nhìn nhận: “Khi cán bộ Đoàn phải phân thân gánh vác cùng lúc quá nhiều đầu việc, rất khó để đầu tư toàn tâm toàn ý cho công tác thanh niên. Hệ quả tất yếu là các hoạt động phong trào dễ bị dàn trải, bề nổi và dần rơi vào hình thức”.
![]() |
![]() |
Khó khăn càng rõ khi chế độ đãi ngộ chưa tương xứng. Một Bí thư Chi đoàn cơ sở đối diện địa bàn rộng lớn, hiểm trở nhưng phụ cấp vỏn vẹn 585.000 đồng mỗi tháng (hệ số 0,25). Trách nhiệm tăng lên theo cấp số nhân trong khi thu nhập chỉ mang tính hỗ trợ khiến việc thu hút, giữ chân cán bộ trẻ tâm huyết ngày càng khó.
![]() |
Dòng chảy dịch chuyển lao động mang đến cơ hội đổi đời, giúp nhiều gia đình vùng cao thoát nghèo, nhưng cũng để lại những khoảng trống vô hình. Đó là những mảnh vỡ không màu của tuổi thơ, của hạnh phúc gia đình và sự gắn kết thế hệ âm thầm hiện hữu phía sau những chuyến xe rời bản làng.
Màn hình điện thoại trên tay cô bé Phan Thị Thanh Tuyền (sinh năm 2015), thôn 9, xã Thái Bình bất chợt sáng lên. Ở đầu dây bên kia là bố em - anh Phan Cao Nguyên, người cha đơn thân đang tranh thủ dừng xe tại một trạm nghỉ trên hành trình vận tải Bắc – Trung trong cuộc hành trình mưu sinh nơi xa quê.
Màn hình tắt, căn nhà nhỏ trở về với sự tĩnh lặng quen thuộc. Từ khi vừa cai sữa, Tuyền đã lớn lên trong vòng tay bà nội Nguyễn Thị Hon. Người bà tóc bạc, góa chồng từ sớm, vừa làm chỗ dựa, vừa thay con trai nuôi cháu suốt những năm tháng tuổi thơ. “Có năm con chỉ gặp bố vào dịp Tết. Ngày thường bố ít về lắm. Con nhớ bố!”, Tuyền khẽ nói.
![]() |
Câu chuyện của Tuyền chỉ là một lát cắt trong bức tranh ngày càng phổ biến ở nhiều vùng quê, nơi tuổi thơ của không ít đứa trẻ gắn với ông bà nhiều hơn hơi ấm cha mẹ. Ở tuổi xế chiều, khi đáng lẽ phải được nghỉ ngơi, ông bà lại thành “điểm tựa cuối cùng”, gánh trên vai trách nhiệm nuôi dạy thế hệ tương lai – một trọng trách vốn thuộc về những người trẻ tuổi. Nhưng phía sau những chuyến đi ấy không chỉ là khoảng cách địa lý. Với nhiều gia đình, đó còn là khởi đầu của rạn nứt không thể hàn gắn, để lại con trẻ lớn lên trong sự thiếu vắng cả tình yêu thương lẫn một mái ấm trọn vẹn.
![]() |
Giai đoạn 2019 - 2025, tỉnh Hà Giang (cũ) ghi nhận 556 trẻ em mất nguồn nuôi dưỡng do mồ côi cha hoặc mẹ, trong khi người còn lại bỏ đi khỏi nơi cư trú từ 24 tháng trở lên. Điển hình là câu chuyện của bốn anh em Hầu Mí La (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018) ở xã Tát Ngà. Năm 2019, người mẹ lấy lý do đi làm công ty rồi bỏ đi biệt tích. Hai năm sau, người cha không may qua đời vì tai nạn rủi ro. Bốn đứa trẻ thơ dại bỗng chốc bơ vơ giữa cuộc đời, nay phải dựa vào sự đùm bọc của người bác họ thuộc diện cận nghèo tại xã Khâu Vai. Ở đó, 10 nhân khẩu chật vật mưu sinh dựa vào nguồn tiền trợ cấp xã hội ít ỏi cùng 0,7 ha ngô 1 vụ và vài con gia súc.
![]() |
Không dừng lại ở những khoảng trống gia đình, áp lực mưu sinh và sự xa cách địa lý đang trực tiếp bào mòn độ bền vững của nhiều cuộc hôn nhân trẻ. Giai đoạn 2021 - 2025, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Tuyên Quang thụ lý 113 vụ ly hôn, đáng báo động là gần 60% trong số đó thuộc về nhóm vợ chồng dưới 35 tuổi. Theo Luật sư Dương Mỹ Thiện, mỗi cuộc ly hôn là kết quả của nhiều nguyên nhân đan xen, nhưng thực tiễn cho thấy việc vợ chồng phải xa nhau vì mưu sinh trong thời gian dài đang trở thành một tác nhân đáng lưu ý, làm gia tăng nguy cơ rạn nứt hôn nhân.
![]() |
Trong không gian lễ hội truyền thống ở xã Phú Lương, tiếng Sình ca của người Cao Lan vẫn vang vọng khắp bản làng. Trong vòng hát đối đáp, các nghệ nhân tóc đã bạc miệt mài truyền từng làn điệu cổ, từng lối hát ứng khẩu cho những gương mặt trẻ, như trao lại một phần hồn cốt của dân tộc.
Nhìn khung cảnh ấy, nhiều người tin rằng Sình ca - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ấy vẫn đang được trao truyền bền bỉ qua các thế hệ. Thế nhưng, ẩn sau sự sôi nổi ấy là nỗi trăn trở khôn nguôi của anh Sầm Văn Đạo - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Bảo tồn văn hóa dân tộc Cao Lan xã Phú Lương.
![]() |
Dù quy tụ hơn 100 thành viên, hằng năm đào tạo ra nhiều “hạt nhân” văn nghệ xuất sắc, CLB vẫn không thắng nổi vòng xoáy mưu sinh. Cứ sau ngưỡng cửa THPT, những giọng ca thiên phú, thuộc nằm lòng nhiều làn điệu Sình ca cổ khó nhất như các em Trần Thị Phượng (thôn Hải Mô), Hoàng Thúy Hưởng (thôn Đồng Xay) hay Trần Thị Toán (thôn Mãn Hóa)… lại lần lượt lên xe ly hương để đầu quân cho các khu công nghiệp dưới xuôi.
Nỗi trăn trở về sự “chảy máu” lực lượng kế cận không của riêng một loại hình di sản nào, từ Then – Tính của người Tày đến Khèn Mông hay Páo dung của người Dao.
![]() |
Ở tuổi 72, nghệ nhân Nguyễn Văn Chự (phường Hà Giang 1) vẫn đau đáu tình yêu son sắt với điệu Then, tiếng Tính. Ông đã dày công sưu tầm, dịch nghĩa và phục dựng lại những bài Then cổ tưởng như đã thất truyền như “Khảm pé”, “Suôi thuông”… Nhiều người ví ông là “pho từ điển sống” bởi sự am hiểu tường tận kho tàng hơn 60 bài Then cổ quý giá của đồng bào Tày.
Trước thực tế những người am tường Then cổ ngày càng thưa vắng, từ năm 2021, ông Chự cùng Hội Nghệ nhân dân gian địa phương quyết tâm mở lớp truyền dạy ngay tại nhà văn hóa với hơn 100 thành viên tham gia. Thế nhưng, một nghịch lý xót xa lại lặp lại: Cứ bước vào tuổi lập thân, họ lại phải đặt nhạc cụ xuống, gác lại câu hát cổ để rời quê mưu sinh. Vòng xoáy cơm áo một lần nữa bỏ lại người thầy già cùng khoảng trống mênh mông về một thế hệ kế cận chưa kịp định hình.
Không chỉ các loại hình diễn xướng dân gian thiếu vắng người trẻ, mà ngay cả những di sản vật thể gắn liền với sinh kế của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng lặng lẽ chờ người kế nghiệp.
![]() |
Thôn Má Chề, xã biên giới Sà Phìn có 91 hộ dân, trong đó người Cờ Lao chiếm 56%. Nghề đan lát nơi đây từng là niềm tự hào của cộng đồng khi được UBND tỉnh công nhận Làng nghề đan lát (năm 2013).
Thế nhưng, “bảo tàng sống” ấy đang đối diện với khoảng trống kế nghiệp ngày một rõ nét. Theo Bí thư Chi bộ thôn Má Chề Sùng Mí Mình: Cả thôn hiện chỉ còn 8 hộ duy trì nghề đan lát thường xuyên với chưa đầy 20 người theo nghề. Đáng lo hơn, phần lớn đều đã ngoài 40 tuổi, còn lớp kế cận chỉ có duy nhất anh Vần Mí Sai (sinh năm 1998). Những đôi tay trẻ từng đủ sức lên rừng chọn tre, chẻ nứa, vót nan, đan gùi giờ lần lượt theo những chuyến xe rời quê tìm kế sinh nhai.
Câu chuyện ở Má Chề không phải cá biệt, mà là lát cắt phản chiếu thực trạng của nhiều di sản vùng cao. Từ giấy Bản của người Dao đến khung cửi dệt lanh, xưởng chế tác khèn của người Mông, nghề dệt thổ cẩm của người Tày hay những lò rèn, xưởng chạm bạc… tất cả đều chung nỗi lo thiếu người kế nghiệp.
![]() |
Anh Triệu Trần Phú, Trưởng thôn Thanh Sơn (xã Bắc Quang) chia sẻ: Chỉ từ năm 2025 đến nay, số hộ giữ nghề giấy Bản sụt giảm nghiêm trọng từ 93 xuống còn 68 hộ. Gần 60 người cao tuổi đành phải buông nghề vì sức kiệt. Thế nhưng, điều xót xa hơn cả là không có một người trẻ nào ở lại nối nghiệp cha ông, khi những cuộc mưu sinh nơi phố thị đã cuốn họ rời xa làng bản.
![]() |
Những chuyến xe rời bản làng vẫn tiếp tục lăn bánh theo nhịp mưu sinh của cuộc sống. Điều cần làm không phải là giữ người trẻ ở lại bằng mọi giá, mà tạo đủ cơ hội để họ muốn trở về gắn bó với quê hương. Bởi chỉ khi giữ được sức trẻ, di sản mới có người kế tục, tổ chức Đoàn mới có những người đủ bản lĩnh để quy tụ và truyền lửa cho thanh niên, còn mỗi nếp nhà mới trọn vẹn hơi ấm đoàn viên. Đó cũng là bài toán lớn nhất đặt ra cho phát triển bền vững ở vùng cao hôm nay.
Thực hiện: Chúc Huyền, Giang Lam,
Biện Luân, Thu Phương, Đức Mạnh
|
|
|






















