Báo Tuyên Quang điện tử

Kỳ 2: Những khoảng trống trong bảo tồn sách cổ

16:50, 29/08/2026
 

 

 

Giữa không gian trầm lắng của ngôi nhà sàn truyền thống, ông Trần Thái Cực, ở tổ 14, phường Hà Giang 1, cẩn thận bê chiếc hòm bằng tre (người Tày gọi là chiếc Níp) ra giữa nhà. Bên trong chiếc hòm thô mộc ấy là những cuốn sách làm bằng giấy bản ghi chép lại các nghi lễ ma chay, cúng bái và cách xem ngày lành tháng tốt. Không có các thiết bị đo nhiệt độ hay hút ẩm chuyên dụng, việc lưu giữ tại gia đình chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thô sơ. Đặc trưng khí hậu vùng núi Tuyên Quang ẩm ướt, mưa nhiều khiến nhiều cuốn sách bị mối mọt, ẩm mốc tàn phá. Từng trang giấy bản mủn dần theo năm tháng, nét mực Tàu nhòe, phai, cho thấy nguy cơ hư hỏng, mất mát ngày càng rõ nét.

 

Ông Trần Thái Cực cầm trên tay những quyển sách cổ được lưu giữ từ bao đời nay

Vật chất bị bào mòn bởi tự nhiên đã đành, sách cổ còn mang trên mình dấu tích của những biến động lịch sử. Tại tổ 14, phường Hà Giang 1, ông Nguyễn Văn Chự, sinh năm 1954 là một trong những nghệ nhân hiếm hoi còn lưu giữ được nhiều tư liệu văn hóa Tày. Nhìn nhận về thực trạng nguồn sách hiện nay, ông Chự chỉ ra một khoảng trống đáng báo động khi những cuốn sách nguyên bản còn tồn tại trong dân gian vô cùng khan hiếm.

 

“Những người còn lưu giữ được sách nguyên bản cổ hiện nay rất ít. Qua thời gian, nhất là trong chiến tranh và những năm sơ tán, sách không được cất giữ tốt nên nhiều cuốn đã hư hỏng”, ông Chự phân tích. Chiến tranh, biến động lịch sử cùng cách cất giữ thủ công, thiếu điều kiện bảo quản đã khiến nhiều sách gốc mục nát, rách hỏng, buộc các thế hệ sau phải liên tục sao chép để lưu giữ vốn cổ.

Nhìn nhận về giá trị của những tài sản vô giá này, ông Nguyễn Văn Hòa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang khẳng định: Những cuốn sách cổ được ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Nôm Dao, chữ Nôm Tày là nguồn tư liệu quý trong kho tàng tri thức và di sản văn hóa của các dân tộc. Sách cúng, văn tế là cẩm nang không thể thiếu trong các nghi lễ quan trọng như Lễ Cấp sắc (dân tộc Dao), Lễ Lồng tông (dân tộc Tày), lễ cầu mùa. Bên cạnh nội dung, cách trình bày, nét chữ viết tay, hình vẽ minh họa trong sách cổ còn đại diện cho mỹ thuật dân gian truyền thống.

Nghi thức cúng tế trời đất và thần linh cầu cho mưa thuận, gió hòa, trong Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày ở Tuyên Quang

Đáng lo ngại là đa số sách cổ hiện nay thuộc về quyền sở hữu cá nhân nên điều kiện bảo quản tại gia dễ bị thời tiết làm hư hại. Càng xót xa hơn, nhiều bản sách không phát huy được giá trị do không có người kế thừa, đọc hiểu chữ Hán, chữ Nôm.

 

Tại sao một di sản giàu giá trị như vậy lại thiếu vắng người kế cận? Thực trạng cho thấy một nghịch lý đứt gãy sâu sắc khi đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn giữ được tiếng nói giao tiếp hằng ngày rất tốt, nhưng chữ viết trên sách cổ thì đang mai một, thậm chí trở thành một thứ mật mã xa lạ với chính những người trẻ sinh ra trong cộng đồng.

Anh Hoàng Văn Cao, 31 tuổi, ở xã Bằng Lang là một ví dụ điển hình. Sinh ra, lớn lên trong bản và giao tiếp thành thạo bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng trước những cuốn sách chữ Nôm cổ của cha ông, anh lại không thể đọc, hiểu nội dung.

 

Sự đứt gãy giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết kéo theo một hệ quả đáng lo ngại mà ông Vi Văn Quyền, người Tày ở xã Vị Xuyên, gọi là sự “cơ giới hóa” văn hóa. Theo ông, nhiều thanh niên nay hát Then chủ yếu bằng cách học thuộc lời Tày nhưng phát âm chưa chuẩn, chưa hiểu hết cội nguồn, ý nghĩa sâu xa của từng câu hát. Trong khi đó, nhiều sách quý do thế hệ trước để lại bị vứt bỏ, cháy hoặc thất lạc vì không còn người đọc được chữ. Từng là phát thanh viên, phóng viên Đài PT-TH Hà Giang (cũ), ông Quyền dành nhiều tâm sức nghiên cứu, sưu tầm, ghi chép, dịch những câu chuyện dân gian truyền miệng ra tiếng Tày. Với sách cổ, ông lặn lội đến từng nhà tìm hiểu. Vì những người lưu giữ chỉ cho xem, không cho mang sách ra khỏi nhà, ông dùng điện thoại chụp lại từng trang giấy bản ố vàng, rồi về cặm cụi chép lại để lưu giữ.

 

Ông Vi Quốc Quyền tác giả của những tác phẩm truyện thơ song ngữ Tày – Việt giới thiệu và chỉa sẻ những tác phẩm mà ông đã ghi chép và xuất bản

Nỗi đau đứt gãy này cũng là tâm sự đầy trăn trở của Nghệ nhân Ưu tú Tiêu Sơn Học, xã Nhữ Khê. Là người nặng lòng với văn hóa dân tộc Cao Lan, ông hiện đang lưu giữ hàng trăm cuốn sách cổ và thấu hiểu tận cùng giá trị của từng con chữ. Dù bản thân ông vẫn miệt mài thực hành tín ngưỡng, nhưng trước sự thờ ơ của một bộ phận người trẻ, ông luôn canh cánh nỗi lo thất truyền.

 

 

Nếu ông Quyền chọn cách cặm cụi chép tay, thì ông Hoàng Văn Thương (thôn Quang Vinh, xã Bắc Quang), nguyên là cán bộ Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quang Bình, tỉnh Hà Giang (cũ) lại mở một hướng tiếp cận mới trong công tác bảo tồn sách cổ. Tại nhà riêng ở trung tâm xã, ông giới thiệu những tập tài liệu cúng, sách thầy Mo, thầy Tạo được ông lặn lội sưu tầm, xin phép chụp lại để mang về phiên dịch.

Đáng nể hơn, ở tuổi 65, ông Thương tự mày mò lên nền tảng YouTube học cách sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và ChatGPT. Ông ứng dụng công nghệ, trong đó có trí tuệ nhân tạo, để phân loại, lưu trữ và dịch các tài liệu đã số hóa một cách bài bản, khoa học.

Ông Hoàng Văn Thương người trực tiếp đi chụp và phiên dịch những bản sách cổ của thầy Mo, thầy Tạo và xem ngày lành tháng tốt

Tuy nhiên, sự nhạy bén và nỗ lực đáng kể của những cá nhân như ông Thương cũng cho thấy một khoảng trống không nhỏ trong công tác quản lý, bảo tồn sách cổ. Những người tâm huyết vẫn đang phải tự tìm cách bảo tồn, tự bỏ công sức, kinh phí và học công nghệ để gìn giữ di sản. Cầm trong tay những bản dịch do mình tự học và thực hiện, ông Thương bày tỏ mong muốn: “Những việc này tôi đều tự học, tự làm và tự bỏ công sức. Tôi rất mong cơ quan chức năng, ngành văn hóa xem xét, kiểm tra và thẩm định lại những bản dịch sách cổ của tôi để bảo đảm chính xác. Nếu những bản dịch đó có giá trị, tôi mong Nhà nước hỗ trợ kinh phí in ấn, xuất bản để những tri thức này được lưu giữ và đến với cộng đồng”.

 

Cùng chung trăn trở về trách nhiệm quản lý và bảo tồn, nghệ nhân Nguyễn Văn Chự nhấn mạnh vai trò của chính quyền cơ sở trong việc tìm kiếm, tập hợp những người tâm huyết và bảo vệ nguồn sách cổ còn lại: “Muốn tìm và giữ được di sản, cán bộ phụ trách văn hóa - xã hội và chính quyền địa phương từ thôn, bản đến tổ dân phố phải sâu sát cơ sở, tìm được những người tâm huyết với sách cổ. Ai còn lưu giữ sách cổ cần bảo vệ, cất giữ cẩn thận để gìn giữ nét đẹp và tiếp tục phát huy giá trị về sau.”

 

 

Sự xuống cấp của những trang giấy bản, nghịch lý “biết chữ” nhưng không đọc được sách cổ, kinh phí phục dựng hạn hẹp đang đẩy sách cổ trước nguy cơ thất truyền. Bởi sách cổ không chỉ là hiện vật giấy mực, mà còn là nguồn tư liệu gốc quý giá cho công tác bảo tồn, nghiên cứu văn hóa.

 

Một khi sách cổ thất truyền, không được thu gom, giải mã, chúng ta sẽ vĩnh viễn mất đi nguồn tư liệu gốc, để lại khoảng trống khó bù đắp cho thế hệ mai sau trong việc hiểu, kế thừa và phát huy tâm hồn, tư duy, hệ giá trị, phong tục của dân tộc.

Mất sách cổ cũng đồng nghĩa với mất đi một phần cốt lõi cấu thành văn hóa. Hệ lụy lớn nhất của việc đánh mất nguồn tư liệu truyền thống là con người trở nên chông chênh, đứt gãy với quá khứ. Khi bản sắc không còn được bám rễ từ nguồn tri thức nguyên bản, nguy cơ bị hòa tan, đồng hóa trước những luồng văn hóa ngoại lai càng lớn.

Khoảng trống trong công tác bảo tồn không thể tiếp tục trông chờ vào những nỗ lực đơn lẻ của nghệ nhân. Làm thế nào để những trang giấy bản ố vàng không trở thành những “mật mã” câm lặng, để nguồn tư liệu quý giá không mất đi trước khi được giải mã? Cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, quyết liệt và kịp thời để bảo tồn, phục dựng và phát huy giá trị sách cổ.

 

 

 

 

 

 


Ý kiến bạn đọc


Đọc tiếp