Tái cấu trúc chương trình khoa học và công nghệ: Đòn bẩy triển khai công nghệ chiến lược

09:26, 18/03/2026

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng quyết liệt, việc làm chủ các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược đang trở thành điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai khoa học và công nghệ tại Việt Nam cho thấy nguồn lực vẫn còn phân tán, quy mô nhiệm vụ nhỏ và cơ chế quản lý chưa thực sự phù hợp với các dự án công nghệ lớn. Trước yêu cầu mới, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề xuất một loạt giải pháp đột phá nhằm tái cấu trúc hệ thống chương trình khoa học và công nghệ, tập trung nguồn lực để phát triển và triển khai các công nghệ chiến lược của quốc gia.

VinMotion - robot hình người “Made in Vietnam” của Tập đoàn Vingroup. Ảnh: PV

Nguồn lực phân tán - điểm nghẽn của phát triển công nghệ chiến lược

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới. Từ năm 2025, nguồn lực ngân sách dành cho lĩnh vực này được tăng cường cả về quy mô và tỷ trọng trong tổng chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, nếu cơ chế quản lý và phân bổ nguồn lực không được điều chỉnh phù hợp, nguồn lực tăng thêm có thể chưa phát huy đầy đủ hiệu quả chiến lược.

Thực tiễn triển khai trong giai đoạn 2021-2024 cho thấy một số hạn chế đáng chú ý trong quản lý chương trình khoa học và công nghệ. Trước hết là vấn đề phân bổ nguồn lực. Tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ so với GRDP tại hầu hết các địa phương hiện đều dưới 0,1%, thấp hơn nhiều so với mức đầu tư của các quốc gia có nền công nghệ phát triển. Điều này khiến quy mô đầu tư cho từng nhiệm vụ còn nhỏ, khó hình thành các dự án công nghệ đủ lớn để tạo ra bước đột phá.

Bên cạnh đó, nguồn lực hiện nay được phân bổ qua nhiều chương trình và cấp quản lý khác nhau. Việc tồn tại song song nhiều chương trình ở các bộ, ngành và địa phương không chỉ khiến quy mô nhiệm vụ bị chia nhỏ mà còn làm gia tăng thủ tục quản lý. Theo báo cáo, chi phí hoạt động quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã tăng từ khoảng 3,5% trong giai đoạn 2016-2020 lên khoảng 6,3% trong giai đoạn 2021-2024, cho thấy hệ thống quản lý còn cồng kềnh và cần tiếp tục được tinh gọn.

Một vấn đề khác là cơ cấu đầu tư cho hạ tầng khoa học và công nghệ chưa thực sự tương xứng với yêu cầu phát triển. Nhiều phòng thí nghiệm chưa được nâng cấp đồng bộ, thiếu trang thiết bị hiện đại. Phần lớn nguồn lực vẫn tập trung cho hoạt động nghiên cứu, trong khi tỷ lệ dành cho đổi mới sáng tạo, thương mại hóa công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp còn hạn chế. Điều này khiến quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và ứng dụng trong thực tiễn chưa đạt như kỳ vọng.

Ngoài ra, sự tham gia của doanh nghiệp trong đầu tư nghiên cứu và phát triển vẫn còn khiêm tốn. Tỷ lệ đóng góp của khu vực doanh nghiệp vào tổng chi cho R&D chưa cao, khiến hệ thống khoa học và công nghệ vẫn phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước và chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp trong đổi mới công nghệ.

Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong giai đoạn 2015-2025, hệ thống chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia đã mở rộng đáng kể với 42 chương trình và gần 5.000 nhiệm vụ. Tuy nhiên, nhiều nhiệm vụ có quy mô nhỏ và phân tán, chủ yếu giải quyết các vấn đề nghiên cứu hẹp nên khó tạo ra sản phẩm công nghệ có tác động lớn đối với nền kinh tế.

Trong khi đó, việc triển khai danh mục công nghệ chiến lược của quốc gia, bao gồm 11 nhóm công nghệ và 35 nhóm sản phẩm, đòi hỏi cách tiếp cận khác so với các nhiệm vụ nghiên cứu thông thường. Các nhiệm vụ này không chỉ dừng ở nghiên cứu mà còn bao gồm cả quá trình làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm và thương mại hóa, do đó cần nguồn lực lớn, cơ chế linh hoạt và sự tham gia của nhiều chủ thể.

Mô hình một mẫu thiết bị bay không người lái do CT Group phát triển. Ảnh: PV

Tái cấu trúc hệ thống chương trình khoa học và công nghệ

Trước những hạn chế nêu trên, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất tái cấu trúc toàn diện hệ thống chương trình khoa học và công nghệ nhằm tập trung nguồn lực cho các công nghệ chiến lược của quốc gia.

Theo định hướng này, hệ thống chương trình khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo của các bộ, ngành sẽ được tổ chức lại theo hướng tinh gọn và phân tầng chức năng thành 6 chương trình lớn. Sáu trụ cột này bao gồm: Nghiên cứu cơ bản và khoa học nền tảng; phát triển công nghệ chiến lược quốc gia; đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp; hạ tầng và nhân lực khoa học và công nghệ; chương trình khoa học và công nghệ quốc gia; chuyển đổi số gắn với địa phương. Trong đó, phát triển công nghệ chiến lược quốc gia được xác định là trụ cột đặc biệt quan trọng, nhằm tập trung nguồn lực giải quyết các bài toán công nghệ lớn của đất nước.

Song song với việc tái cấu trúc chương trình, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đề xuất đổi mới cơ chế quản trị và điều hành theo hướng hiện đại và minh bạch hơn. Một trong những giải pháp trọng tâm là xây dựng nền tảng quản lý khoa học và công nghệ quốc gia trên môi trường số, kết nối dữ liệu về nhiệm vụ nghiên cứu, nguồn vốn, đội ngũ nhà khoa học, các quỹ hỗ trợ và kết quả nghiên cứu trên phạm vi cả nước. Nền tảng này sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, giảm trùng lặp nhiệm vụ và tăng hiệu quả quản lý.

Đối với các chương trình công nghệ chiến lược, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất thiết lập cơ chế điều phối liên bộ dưới sự lãnh đạo của Ban Chỉ đạo và Chính phủ. Cơ quan điều phối này sẽ có nhiệm vụ định hướng phát triển công nghệ chiến lược, điều phối nguồn lực giữa các bộ, ngành và địa phương, đồng thời bảo đảm các chương trình lớn được triển khai với quy mô đủ mạnh và tránh tình trạng đầu tư trùng lặp.

Một điểm mới đáng chú ý là việc chuyển mạnh sang cơ chế đặt hàng nhiệm vụ lớn. Theo đó, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp sẽ công bố các bài toán công nghệ lớn, lựa chọn đơn vị thực hiện dựa trên năng lực giải quyết vấn đề và khả năng làm chủ công nghệ lõi. Các dự án sẽ được quản lý theo tiến độ kỹ thuật thay vì kiểm soát chứng từ như trước đây, đồng thời áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng.

Để khuyến khích đổi mới sáng tạo, cơ chế mới cũng cho phép chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Những dự án thất bại do rủi ro khách quan nhưng đã được triển khai đúng quy trình sẽ không phải bồi hoàn kinh phí. Cách tiếp cận này nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho các nghiên cứu đột phá, đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ mới có mức độ rủi ro cao.

Cùng với đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất các chính sách thúc đẩy thị trường công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Một trong những giải pháp quan trọng là chính sách “mua sản phẩm đầu tiên”, theo đó Nhà nước ưu tiên mua các sản phẩm công nghệ chiến lược nội địa trong các dự án đầu tư công. Chính sách này giúp doanh nghiệp vượt qua rủi ro thị trường trong giai đoạn đầu, đồng thời tạo điều kiện thu hút thêm vốn đầu tư từ khu vực tư nhân.

Bên cạnh đó, vai trò của các quỹ như Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng được đề xuất tăng cường. Các quỹ này không chỉ tài trợ nghiên cứu mà còn có thể đặt hàng nghiên cứu và hỗ trợ mua sản phẩm công nghệ chiến lược, qua đó phát huy vai trò đòn bẩy của ngân sách nhà nước trong việc huy động nguồn lực xã hội cho phát triển công nghệ.

Một giải pháp quan trọng khác là phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực cốt lõi. Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất đầu tư nâng cấp các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, xây dựng trung tâm thử nghiệm công nghệ và hạ tầng tính toán hiệu năng cao, tạo điều kiện cho nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ mới. Đồng thời, các chương trình thu hút chuyên gia quốc tế và nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài sẽ được triển khai nhằm tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án công nghệ chiến lược.

Với các giải pháp trên, Bộ Khoa học và Công nghệ kỳ vọng việc tái cấu trúc hệ thống chương trình khoa học và công nghệ sẽ giúp chuyển từ mô hình nghiên cứu phân tán sang phát triển công nghệ có trọng tâm, gắn với nhu cầu của nền kinh tế. Đây cũng được xem là điều kiện quan trọng để triển khai hiệu quả danh mục công nghệ chiến lược, từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo Báo Hà Nội Mới


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Cử tri trí thức đóng góp ý kiến tâm huyết phát triển bền vững đất nước
Hướng tới Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, cử tri trí thức kỳ vọng các đại biểu phát huy trách nhiệm, bản lĩnh và trí tuệ, xứng đáng với niềm tin của nhân dân, góp phần ban hành những quyết sách đúng đắn, kịp thời cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
17/03/2026
Viettel kiến tạo hệ sinh thái AI nội địa tự chủ, đồng hành chuyển đổi số quốc gia cùng Chính phủ và doanh nghiệp
Việc chia sẻ hạ tầng, nền tảng công nghệ với viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng khởi nghiệp trong nước không chỉ nâng tầm năng lực công nghệ của Viettel mà còn đặt nền móng cho hệ sinh thái AI nội địa tự chủ, bền vững, sẵn sàng đồng hành cùng Chính phủ và doanh nghiệp trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
17/03/2026
Meta tiếp tục có công cụ chống lừa đảo mới nhất
Đội ngũ Meta đã phát triển các công cụ mới để cảnh báo người dùng trước khi tương tác với những nội dung đáng ngờ.
17/03/2026
Ra mắt Ban điều phối hệ thống các trung tâm đào tạo tài năng công nghệ 4.0
Sáng 17-3, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) và 27 cơ sở đào tạo đại học và doanh nghiệp công nghệ đã ra mắt Ban điều phối hệ thống các trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng về công nghệ 4.0.
17/03/2026