Thực thi chính sách với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng
Tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho thương binh, liệt sĩ
Thương binh - Liệt sỹ là những người đã hy sinh, cống hiến cho nền độc lập, tự do của dân tộc, cho sự trường tồn, phát triển của đất nước. Cuộc đời, sự nghiệp của họ là biểu tượng cao đẹp của tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng. Tưởng nhớ, tri ân và thực thi tốt chính sách với Thương binh - Liệt sỹ và người có công với cách mạng không chỉ thể hiện đạo lý uống nước, nhớ nguồn mà góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tạo động lực cho quá trình phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh hiện nay.
Trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam luôn bị các thế lực hùng mạnh ở phương Bắc, phương Tây nhòm ngó, xâm lăng. Để gìn giữ biên cương, lãnh thổ, biết bao thế hệ người dân Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ nền độc lập, tự do.
![]() |
| Ngày 2/9/1955, Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới đặt vòng hoa viếng các liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh |
Cảm phục, biết ơn trước những tấm gương anh dũng đã “quyết tử” cho “Tổ quốc quyết sinh”, cũng như nhằm chia sẻ, cảm thông với nỗi đau của thân nhân các gia đình có công với cách mạng, ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi. Người viết: "Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó, và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi"(1).
Nhận được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng (Giám đốc Y tế Bắc Bộ) hy sinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Người đã viết thư hỏi thăm với những lời thấm đẫm tình cảm: “Tôi được báo cáo rằng: con giai của ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”(2).
Để tưởng nhớ, tri ân những cống hiến, hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh và thân nhân của họ, vào tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị cho các ban ngành chọn một ngày trong năm làm Ngày Thương binh. Thực hiện chỉ thị của Người, một hội nghị trù bị bao gồm các đại biểu đến từ các cơ quan trung ương và một số khu, tỉnh đã được tổ chức tại Phù Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) thống nhất lấy ngày 27/7/1947 là Ngày Thương binh toàn quốc. Từ năm 1955, Ngày Thương binh toàn quốc được đổi tên thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh - Liệt sĩ” của cả nước. Đây là ngày có ý nghĩa quan trọng để đồng bảo cả nước bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng trước những cống hiến, hy sinh to lớn của những thế hệ cha anh đã ngã xuống vì lý tưởng, mục tiêu cao đẹp: Bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, đem lại hòa bình, hạnh phúc, ấm no cho nhân dân.
Viết về thương binh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”(3).
Nhằm đảm bảo tốt cuộc sống của thương binh, thân nhân các gia đình có công với cách mạng, với tư cách là người đứng đầu Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nhiều sắc lệnh quan trọng như: Sắc lệnh số 20-SL ngày 16/2/1947 quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thương nhân tử sĩ; Sắc lệnh số 58-SL ngày 6/6/1947 tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập để thưởng hoặc truy tặng cho đoàn thể hay những người có công với nước, với dân hoặc tặng cho các nhân vật ngoại quốc đã có công với nước Việt Nam…
Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc viết năm 1968, Người căn dặn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng, kháng chiến. Người căn dặn: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”(4).
Tư tưởng, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công với cách mạng là sự kế thừa và phát triển những tư tưởng, truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Uống nước nhớ nguồn; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc đã trở thành nét đẹp văn hóa, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, kết thành sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, ý chí quyết tâm đánh đuổi quân thù xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do, thống nhất đất nước và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Theo tuyengiao.vn











Ý kiến bạn đọc