Giai điệu tự hào về Đảng quang vinh
Từ đêm trường nô lệ, ánh sáng của Đảng bừng lên như vầng dương, soi đường dẫn lối cho dân tộc bước tới đài độc lập, mở ra kỷ nguyên vươn mình rực rỡ. Âm nhạc đã đón nhận luồng sáng ấy để dệt nên những biên niên sử bằng âm thanh. Và trên mảnh đất xứ Tuyên anh hùng, mỗi khuông nhạc không chỉ dừng lại ở giá trị nghệ thuật mà hóa thân thành ngọn lửa thiêng, sưởi ấm tâm hồn bao thế hệ.
Biên niên sử bằng âm thanh
Hơn cả nghệ thuật, những bài ca dâng Đảng trở thành biên niên sử bằng âm thanh gắn liền với bước đường phát triển của dân tộc. Đó là nơi chính trị hóa thành nghệ thuật, thành cảm xúc thăng hoa và trường tồn cùng dân tộc, bởi chúng mang trong mình nhịp đập của khát vọng tự do, hạnh phúc.
Ngay từ bình minh của phong trào cách mạng 1930 -1931, giữa cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh rực lửa, nhạc sĩ Đinh Nhu đã kết tinh ý chí quật khởi của dân tộc vào bản hùng ca bất hủ “Cùng nhau đi hùng binh”. Đây không chỉ là một tác phẩm âm nhạc mà là lời hiệu triệu thiêng liêng của Đảng, được chuyển hóa thành ngôn ngữ đại chúng ngắn gọn, đanh thép. Mỗi ca từ như một nhịp bước quân hành, thôi thúc quần chúng đứng lên “quyết chí hy sinh” vì lý tưởng đại đồng, biến khát vọng tự do thành sức mạnh vật chất của hành động cách mạng.
![]() |
| Tuổi trẻ phường Hà Giang 1 tích cực luyện tập các tiết mục văn nghệ ca ngợi Đảng, lan tỏa tinh thần xung kích và niềm tự hào trong thế hệ trẻ. |
Hai thập kỷ sau, tháng 2-1951, tại Chiêm Hóa, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng mở ra bước ngoặt lịch sử khi Đảng chính thức ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam. Trong không khí sục sôi ấy, nhạc sĩ Đỗ Minh đã sáng tác “Chào mừng Đảng Lao động Việt Nam” (sau đổi tên thành “Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam”). Bản nhạc với những ca từ vừa lãng mạn, vừa bi tráng: “Vừng trời Đông, ánh hồng soi sáng bừng lên/Đàn bồ câu trắng bay về trong nắng mới...”, đã khắc họa hình tượng Đảng như nguồn sáng dẫn đường, quy tụ khối đại đoàn kết công - nông, thắp lên niềm tin mãnh liệt vào tương lai độc lập, tự do.
Khi ánh hồng từ “vừng trời Đông” lan tỏa khắp dải đất hình chữ S, âm nhạc cách mạng lại tiếp tục hành trình đi vào mạch sống của các dân tộc anh em. Năm 1956, từ lòng tri ân sâu nặng với đồng bào Mông nơi rẻo cao, nhạc sĩ Thanh Phúc đã viết nên tuyệt phẩm “Người Mèo ơn Đảng”. Với âm hưởng dân gian đặc sắc, bài hát mang sứ mệnh của một “bản dân vận khéo” bằng âm nhạc, trở thành cầu nối tâm hồn đưa chủ trương của Đảng đến gần hơn với trái tim đồng bào biên thùy, khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân.
Sau đại thắng mùa Xuân 1975, âm nhạc về Đảng bước sang một cung bậc mới, quyện hòa với niềm vui thống nhất, hòa bình và khát vọng dựng xây đất nước hùng cường. Bên cạnh những khúc tráng ca đầy kiêu hãnh như “Việt Nam ơi, mùa Xuân đến rồi” (Huy Du) hay sự uy nghiêm của “Lá cờ Đảng” (Văn An), âm nhạc về Đảng còn mang vẻ đẹp lãng mạn, trữ tình đầy chất thơ. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã dệt nên những ca từ đẹp tựa gấm thêu trong “Đảng đã cho ta một mùa xuân”. Với “Màu cờ tôi yêu”, ông khắc họa lá cờ Đảng thiêng liêng mà dung dị: “Đỏ như dòng máu của mình” để gắn kết định mệnh mỗi cá nhân vào vận mệnh chung của dân tộc.
Truyền lửa cách mạng
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, một thế hệ “nghệ sĩ vàng” được đào tạo bài bản đã xuất hiện, trở thành những “tượng đài” gắn liền với dòng ca khúc chính luận, “truyền lửa” cách mạng vào tâm khảm dân tộc.
Có thể kể đến những giọng ca nam hào sảng như NSND Quốc Hương, Trần Khánh, Quý Dương, Trần Hiếu, Trung Kiên, Quang Thọ… hay nét mềm mại, trữ tình của NSND Thu Hiền, Lê Dung, Thương Huyền, Thanh Hoa. Mỗi nghệ sĩ mang một sắc thái riêng, từ Opera chuẩn mực đến nhạc đỏ hào hùng, họ cùng hòa quyện để khắc họa chân dung Đảng bằng âm thanh. Chính sự thăng hoa ấy đã biến những lý tưởng chính trị vốn khô khan thành giai điệu ngọt ngào, làm rạng rỡ thêm hào khí cha ông. Mạch nguồn ấy tiếp tục được các thế hệ sau như Đăng Dương, Trọng Tấn, Anh Thơ gìn giữ, giúp âm hưởng về Đảng luôn tươi mới.
Tại Tuyên Quang, âm nhạc cách mạng đang bứt phá mạnh mẽ, trở thành nhịp cầu nối quá khứ hào hùng với tương lai rạng rỡ. Nếu “Vạn con tim một niềm kiêu hãnh” (nhạc Bùi Trường Giang; lời Nguyễn Hoài) là dải lụa âm thanh kết nối Tân Trào lịch sử, Lũng Cú thiêng liêng, khẳng định tình gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân; thì “Tuyên Quang - Kỷ nguyên vươn mình” của NSƯT Ngô Sỹ Tùng lại dệt nên bức tranh đa sắc, nơi “hào khí cha ông” hòa quyện nhịp nhàng cùng hơi thở thời đại. Theo Phó Chủ tịch Hội nhạc sĩ Việt Nam Phạm Ngọc Khôi: Điểm đột phá đầy bản lĩnh của nhạc sĩ Sỹ Tùng chính là việc đưa chất liệu rap vào ca khúc chính luận để làm mềm hóa phương châm “Đoàn kết - Đột phá - Phát triển”, biến tư tưởng “Dân là gốc” thành hơi thở sôi động của tuổi trẻ. Đây chính là bản “dân vận khéo” bằng âm thanh, thúc giục mỗi người con xứ Tuyên kề vai sát vai bước vào kỷ nguyên mới.
Để những khuông nhạc thực sự “sống” và lan tỏa, đội ngũ nghệ sĩ xứ Tuyên đã hóa thân thành nhịp cầu âm thanh, đưa giai điệu về Đảng thấm sâu vào lòng dân. Nếu ca sĩ Hoàng Dung, Hương Ly mang đến sự tha thiết, tinh tế trong từng cung bậc âm thanh thắm đượm tình đất, tình người thì Minh Thịnh, Minh Đua hay Quang Huy lại thể hiện sự hào sảng, đanh thép trong những bản hùng ca đầy quyết tâm. Và đặc biệt, những ca khúc về Đảng không chỉ vang lên trong các dịp lễ lớn, ngày kỷ niệm hay trên sân khấu trang trọng, mà còn ngân lên trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Từ đó, đưa hình ảnh Đảng - biểu tượng chính trị bước vào đời sống tinh thần, bền bỉ nuôi dưỡng niềm tin, củng cố sự đồng thuận và khơi dậy khát vọng cống hiến của mỗi người dân.
Vượt qua mọi thăng trầm, âm nhạc về Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị của một bản hùng ca bất diệt. Sứ mệnh lớn nhất của những giai điệu này chính là khả năng nghệ thuật hóa lý tưởng, chưng cất tư tưởng chính trị cốt lõi thành nhịp đập thổn thức của trái tim. Chính sự giao thoa giữa ý Đảng - lòng dân đã tạo nên sức sống trường tồn, biến âm nhạc thành nguồn sức mạnh nội sinh vô giá, thúc giục dân tộc ta vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình.
Phương Thùy











Ý kiến bạn đọc