Công nghệ nuôi cua biển tuần hoàn thúc đẩy chuyển đổi số trong nông nghiệp
Mô hình nuôi cua công nghệ cao đang cho thấy hướng đi mới của nông nghiệp số khi người nuôi chủ động kiểm soát môi trường, dữ liệu và quy trình sản xuất. Trong tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cách làm này mở thêm triển vọng nâng giá trị sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.
Ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước
Những năm gần đây, nhu cầu đối với cua thương phẩm, đặc biệt là cua cốm và cua lột, tăng lên nhờ giá trị kinh tế cao và khả năng đáp ứng nhiều phân khúc thị trường. Tuy nhiên, cùng với sức hút của thị trường là áp lực ngày càng lớn về chất lượng, độ đồng đều của sản phẩm và tính ổn định trong sản xuất.
![]() |
| Mô hình nuôi cua công nghệ cao đang cho thấy hướng đi mới của nông nghiệp số. Ảnh: Bảo Thoa |
Trong khi đó, phương thức nuôi truyền thống vẫn đối mặt với nhiều rủi ro. Nuôi trong ao đất phụ thuộc nhiều vào nguồn nước tự nhiên, biến động thời tiết và môi trường. Chỉ cần nhiệt độ thay đổi đột ngột, chất lượng nước suy giảm hoặc dịch bệnh phát sinh, tỷ lệ hao hụt có thể tăng nhanh. Bên cạnh đó, tập tính cắn nhau, ăn lẫn nhau của cua khiến việc nuôi mật độ cao gặp nhiều hạn chế, làm tăng chi phí và giảm hiệu quả kinh tế.
Từ thực tế đó, các mô hình nuôi ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước (RAS - recirculating aquaculture system) đang được quan tâm như một hướng tiếp cận mới.
Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Giám đốc M.E Farm (xã Nam Phù, Hà Nội), đồng thời là người chủ trì dự án nuôi cua công nghệ cao tại trang trại, cho biết chính những bài toán của nghề nuôi truyền thống đã khiến đơn vị quyết định theo đuổi mô hình này.
![]() |
| Mô hình nuôi ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước (RAS - recirculating aquaculture system) cho ra sản phẩm chất lượng cao. Ảnh: Bảo Thoa |
“Điều chúng tôi hướng tới không đơn thuần là thay đổi vật chứa hay cách bố trí không gian nuôi. Mục tiêu là tạo ra một hệ thống có thể kiểm soát môi trường sống của cua tốt hơn, giảm rủi ro hao hụt, đồng thời nâng cao hiệu quả sinh học và hiệu quả kinh tế trong dài hạn”, bà Oanh nói.
Tại khu nuôi cua công nghệ cao, những dãy hộp nhựa xếp thành giàn thẳng tắp, nối với nhau bằng hệ thống đường ống, bể lọc và thiết bị đo môi trường. Thay vì thả nuôi theo ao truyền thống, mỗi con cua được nuôi riêng trong một ô. Toàn bộ quá trình vận hành được theo dõi hằng ngày qua các chỉ số môi trường nhập lên máy tính.
Giai đoạn 1 của mô hình có quy mô 1.080 hộp trên diện tích 300m². Hệ thống được thiết kế theo nguyên lý tuần hoàn, giúp tạo môi trường nuôi ổn định, hạn chế tác động trực tiếp của thời tiết bên ngoài.
Theo bà Oanh, điểm cốt lõi của mô hình không nằm ở việc “nuôi cua trong hộp nhựa”, mà ở khả năng tạo ra một hệ sinh thái nhân tạo có kiểm soát. Từng cá thể được nuôi riêng giúp hạn chế hiện tượng cua cắn nhau, ăn lẫn nhau - vốn là nguyên nhân gây tổn thất lớn trong phương thức nuôi truyền thống.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Kim Oanh giới thiệu mô hình nông nghiệp sinh thái tổng hợp, trong đó có khu nuôi cua công nghệ cao. Ảnh: Bảo Thoa |
Một trong những băn khoăn thường gặp là liệu việc nuôi đơn con trong không gian hẹp có ảnh hưởng đến chất lượng thịt cua hay không. Bà Oanh cho rằng, theo đặc tính sinh học của loài cua, cấu trúc thịt không phải là cấu trúc cơ nên mức độ vận động nhiều hay ít không quyết định độ săn chắc.
“Chất lượng thịt cua phụ thuộc nhiều hơn vào thành phần dinh dưỡng trong thức ăn và chất lượng môi trường sống. Khi môi trường ổn định, dinh dưỡng phù hợp thì cua vẫn phát triển tốt, chất lượng thương phẩm vẫn được bảo đảm”, bà Oanh phân tích.
Theo bà Oanh, nuôi theo công nghệ không đồng nghĩa với việc “thả vào hệ thống rồi để đó”. Nhân viên trang trại phải kiểm tra hằng ngày sức khỏe cua, khả năng ăn uống, thời điểm lột xác, từ đó điều chỉnh các thông số môi trường. “Hệ thống chỉ phát huy hiệu quả khi con người theo dõi sát và xử lý kịp thời”, bà nói.
Bài toán tiết kiệm tài nguyên
Anh Lê Đức Cảnh, kỹ sư của dự án, cho biết, ưu điểm nổi bật nhất của mô hình là giảm đáng kể lượng nước đầu vào. Trong hệ thống này, thức ăn thừa được lọc thô; phần chất thải hữu cơ và cặn bẩn được đưa vào môi trường yếm khí để phân hủy. Sau đó, nước đi qua màng lọc, được bổ sung khoáng chất cần thiết rồi quay trở lại hệ thống nuôi. Nhờ quy trình đó, nguồn nước có thể được tái sử dụng tới 99,5%.
![]() |
| Anh Lê Đức Cảnh, kỹ sư của dự án cho biết ưu điểm nổi bật nhất của mô hình là giảm đáng kể lượng nước đầu vào. Ảnh: Bảo Thoa |
“Điều này rất quan trọng bởi nuôi thủy sản hiện nay không chỉ là câu chuyện năng suất, mà còn là bài toán tiết kiệm tài nguyên và kiểm soát ổn định môi trường”, anh Cảnh nói.
Trong hệ thống tuần hoàn, một chi tiết kỹ thuật được trang trại đặc biệt chú trọng là hạt kaldnes. Theo kỹ sư Lê Đức Cảnh, đây là vật liệu giá thể đóng vai trò như “ngôi nhà” cho hệ vi sinh vật. Vi sinh bám trên bề mặt các hạt này giúp xử lý các hợp chất hữu cơ, chất thải do cua tạo ra. Cùng với hệ thống đánh sủi oxy, dòng nước được mô phỏng như sóng ngoài biển, tạo môi trường gần với tự nhiên hơn cho cua phát triển.
![]() |
| Mô hình có quy mô 1.080 hộp trên diện tích 300m². Ảnh: Bảo Thoa |
Bên cạnh đó, hệ thống đèn UV được sử dụng để xử lý tảo, nấm và vi khuẩn, góp phần duy trì độ ổn định sinh học của môi trường nuôi. Các chỉ số như nhiệt độ, chất lượng nước và khả năng vận hành của hệ thống lọc đều được kiểm tra định kỳ, sau đó nhập dữ liệu lên máy tính để theo dõi từng ngày.
Trang trại cũng siết chặt hơn quy trình kiểm soát nhiệt độ, chất lượng nước và tốc độ thích nghi của cua với môi trường mới. Việc lấy mẫu nước, kiểm tra các chỉ số môi trường được duy trì thường xuyên để kịp thời điều chỉnh. Theo bà Oanh, đây cũng là một trong những bài học quan trọng của nuôi trồng công nghệ cao. “Công nghệ không loại bỏ hoàn toàn rủi ro, nhưng giúp chúng ta nhìn thấy vấn đề nhanh hơn, đo lường chính xác hơn và xử lý có cơ sở hơn”, bà nói.
![]() |
| Với hệ thống nước tuần hoàn, môi trường phát triển của cua được bảo đảm và có lợi thế không bị ảnh hưởng từ thiên nhiên, thời tiết. Ảnh: Bảo Thoa |
Về hiệu quả kinh tế, giai đoạn 1 của mô hình có mức đầu tư khoảng 1,5 tỷ đồng. Trang trại sử dụng 30m³ nước biển mua trực tiếp từ Hạ Long với giá 500.000 đồng/m³. Theo tính toán của kỹ sư Lê Đức Cảnh, nếu hệ vi sinh hoạt động ổn định và quy trình theo dõi được duy trì tốt, lượng nước này có thể sử dụng trong khoảng 1 đến 1,5 năm mới cần thay mới. Chi phí đầu tư ban đầu khá cao, song về dài hạn lại giúp tiết kiệm nước, tiết kiệm diện tích và tăng khả năng kiểm soát sản xuất.
Ông Bùi Văn Bình, Chủ tịch Hội Nông dân xã Nam Phù cho rằng, mô hình nuôi cua công nghệ cao là tín hiệu tích cực trong quá trình chuyển dịch nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Kim Oanh luôn quan tâm đến nguồn nước sạch tạo hệ sinh thái cho thức ăn nuôi cua. Ảnh: Bảo Thoa |
“Theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Trong nông nghiệp, điều đó càng có ý nghĩa khi sản xuất đang đứng trước yêu cầu phải nâng cao giá trị, tiết kiệm tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu”, ông Bình nói.
Theo ông Bình, mô hình nuôi cua công nghệ cao tại Nam Phù cho thấy hướng tiếp cận phù hợp. Việc ứng dụng công nghệ vào quản lý môi trường nuôi, kiểm soát dữ liệu và tổ chức quy trình sản xuất bài bản là hướng đi đúng. Nếu tiếp tục được hoàn thiện về kỹ thuật và thị trường, mô hình này có thể mở ra hướng phát triển kinh tế nông nghiệp mới cho địa phương.
Theo Báo Hà Nội Mới
















Ý kiến bạn đọc