Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 5/5/2026 đặt ra yêu cầu xử lý quyết liệt các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Với bản quyền trực tuyến, yêu cầu đó không chỉ là gỡ thêm nhiều đường link hay chặn thêm một số website vi phạm mà phải nhận diện và xử lý triệt để hệ sinh thái vận hành phía sau, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn về chứng cứ số trong xử lý hành chính, dân sự và hình sự.
Hệ sinh thái sau website lậu
Ngay sau khi Công điện số 38/CĐ-TTg về tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được ban hành, hàng loạt website phim lậu, website chuyên cung cấp game bẻ khóa (crack) và Việt hóa trái phép đã chủ động thông báo ngừng hoạt động. Nhiều nhóm dịch cộng đồng (fansub) cũng nhanh chóng gỡ bỏ các tệp tin lưu trữ và xóa các bài đăng chia sẻ link tải phim trên các mạng xã hội và nền tảng lưu trữ đám mây, cho thấy tác động tức thời của đợt cao điểm đối với thị trường nội dung số lậu.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng đằng sau một website xem phim lậu, một ứng dụng phát nội dung trái phép, một gói dịch vụ truyền hình qua internet (IPTV) không bản quyền là hệ thống tên miền, máy chủ, tài khoản quảng cáo, ví thanh toán, nhóm chăm sóc khách hàng, dữ liệu người dùng và nhiều lớp trung gian. Website lậu là một mô hình vận hành, không phải là một đường link. Bởi vậy, nếu chỉ gỡ một đường link, người vận hành vẫn có thể tạo link mới; nếu chặn một tên miền thì tên miền khác có thể xuất hiện; nếu chỉ xử lý tài khoản bán hàng cuối cùng, nguồn phát tán và dòng tiền vẫn tồn tại.
Theo chuyên gia an ninh mạng Ngô Minh Hiếu, Giám đốc Tổ chức Chống lừa đảo - thành viên Hiệp hội An ninh mạng quốc gia Việt Nam, các website vi phạm bản quyền thường không biến mất hoàn toàn sau khi bị chặn. Chúng có thể đổi tên miền, dùng tên miền phụ, chuyển máy chủ ra nước ngoài, dùng mạng phân phối nội dung (CDN), máy chủ trung gian (proxy), các website bản sao (mirror site) hoặc phát tán đường dẫn qua các mạng xã hội Telegram, Facebook, nhóm kín để kéo người dùng quay lại.
Vì vậy, nếu chỉ chặn từng tên miền thì giống như “cắt ngọn”, còn hệ thống phía sau vẫn tiếp tục vận hành. Hướng hiệu quả hơn là xử lý cả hệ sinh thái phía sau, từ nguồn phát nội dung lậu, hạ tầng kỹ thuật, quảng cáo, thanh toán, tài khoản nhận tiền đến các nhóm điều hành. Khó khăn nằm ở chỗ nhiều thành phần có thể ở nước ngoài, dùng danh tính ẩn, thay đổi hạ tầng liên tục và lợi dụng nền tảng hợp pháp để che giấu hoạt động.
Về mặt pháp lý, Luật Sở hữu trí tuệ đã có quy định về quyền yêu cầu gỡ bỏ, xóa nội dung vi phạm trên mạng và các biện pháp dân sự, khẩn cấp tạm thời như gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc định danh địa chỉ internet liên quan hành vi xâm phạm. Nhưng để các công cụ pháp luật đó vận hành hiệu quả, điều kiện tiên quyết vẫn là hồ sơ chứng cứ số đủ tin cậy, có khả năng chứng minh được hành vi vi phạm, thời điểm vi phạm, đối tượng vi phạm và phạm vi phát tán.
Hiện nay, vấn đề còn tranh luận là thời điểm, nguồn gốc và tính toàn vẹn của chứng cứ số trong xử lý vi phạm bản quyền trực tuyến. Chẳng hạn ảnh chụp màn hình có thể bị nghi ngờ chỉnh sửa, đường link có thể biến mất, file có thể bị thay đổi, tài khoản có thể đổi tên, máy chủ có thể chuyển địa chỉ.
Vi bằng Thừa phát lại có giá trị trong việc ghi nhận hiện trạng tại một thời điểm cụ thể, nhưng với web lậu, app lậu hoặc truyền hình qua internet lậu, vi bằng không tự động chứng minh được ai vận hành máy chủ, ai kiểm soát tên miền, ai thu tiền, doanh thu bao nhiêu, số người dùng thế nào hoặc hệ thống đã vận hành trong bao lâu. Đây là điểm nghẽn của thực thi bản quyền trực tuyến.
Theo luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ Bross & Partners, trong một hồ sơ vụ việc bản quyền trực tuyến, chứng cứ tốt cần có bản ghi thao tác, thời điểm ghi nhận, thông tin quyền, bản so sánh nội dung gốc và nội dung vi phạm, thông tin tên miền, tài khoản, phương thức thanh toán, dữ liệu quảng cáo nếu có, và báo cáo giải thích mối liên hệ giữa các dấu vết đó.
Trong các vụ bản quyền trực tuyến, thời điểm ghi nhận dữ liệu và cách bảo đảm dữ liệu không bị chỉnh sửa có ý nghĩa rất lớn. Vì thế, chữ ký số, dấu thời gian và cơ chế kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu có thể hỗ trợ cho việc chứng minh dữ liệu tồn tại vào thời điểm nào, được ghi nhận ra sao và có bị thay đổi hay không.
Từ góc độ kỹ thuật, chuyên gia Ngô Minh Hiếu cũng lưu ý rằng việc thu thập chứng cứ cần ghi nhận đầy đủ địa chỉ trang web (URL), ảnh chụp màn hình, video quá trình truy cập, thông tin tên miền, máy chủ, tài khoản quảng cáo, tài khoản thanh toán và dữ liệu liên quan nếu có.
Quan trọng hơn, dữ liệu phải được thu thập theo quy trình rõ ràng, có thời điểm xác nhận, bảo đảm tính toàn vẹn và hạn chế tối đa khả năng bị cho là đã chỉnh sửa hoặc cắt ghép. Khi cần, chủ thể quyền nên phối hợp với cơ quan chức năng, đơn vị giám định hoặc Thừa phát lại để tăng giá trị chứng minh.
Giải pháp để xử lý từ gốc
Trong xử lý bản quyền trực tuyến, Bản án số 244/2024/HSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan là thí dụ đáng chú ý. Người vận hành hệ thống đã sử dụng nhiều tên miền, quảng cáo dịch vụ, cung cấp đường dẫn để người dùng xem trực tiếp Giải bóng đá Ngoại hạng Anh và phim nước ngoài, bán gói sử dụng dịch vụ với giá 9 USD/tháng, nhận tiền qua ví điện tử rồi chuyển về tài khoản ngân hàng tại Việt Nam.
Tòa án xác định bị cáo có thu lợi bất chính và tuyên phạm tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự. Bản án thể hiện rõ cấu trúc vận hành gồm nhiều tên miền, quảng cáo, cung cấp đường dẫn, bán gói 9 USD/tháng, nhận tiền qua ví điện tử và chuyển về tài khoản ngân hàng.
Vụ việc này cho thấy xử lý bản quyền trực tuyến muốn có sức răn đe phải làm rõ ai bán dịch vụ, ai cung cấp đường dẫn, ai nhận tiền, tiền đi đâu, hệ thống tên miền được dùng thế nào, người dùng được tiếp cận nội dung vi phạm bằng cách nào. Nếu hệ thống vi phạm vẫn kiếm tiền từ quảng cáo, ví điện tử, tài khoản ngân hàng hoặc cổng thanh toán, việc chặn tên miền sẽ khó tạo đủ sức răn đe. Cần có cơ chế “cắt dòng tiền” đối với các hệ thống vi phạm có tổ chức.
Để xử lý được từ gốc, cần làm rõ trách nhiệm phối hợp của nền tảng số, nhà cung cấp dịch vụ trung gian, đơn vị quảng cáo, thanh toán, dịch vụ lưu trữ dữ liệu, đăng ký tên miền và các chủ thể liên quan trong việc cung cấp dữ liệu, kiểm soát tái phạm và ngăn chặn việc tiếp tục khai thác hạ tầng số cho hành vi vi phạm.
Theo chuyên gia Ngô Minh Hiếu, xử lý vi phạm bản quyền trực tuyến cần cơ chế phối hợp nhanh giữa chủ sở hữu quyền, cơ quan quản lý, nhà mạng, nền tảng số, đơn vị quảng cáo và thanh toán; đồng thời cần ứng dụng công nghệ để phát hiện sớm website lậu, livestream lậu, nội dung sao chép và các hệ thống tái sinh tên miền.
Ông cũng cho rằng cần xử lý nghiêm một số vụ điển hình, nhất là đường dây có doanh thu lớn, hoạt động có tổ chức, đồng thời truyền thông để người dùng hiểu rằng nội dung lậu còn tiềm ẩn rủi ro mã độc, quảng cáo độc hại, đánh cắp tài khoản và lộ dữ liệu cá nhân.
Nhấn mạnh việc chọn vụ điểm có mô hình kiếm tiền rõ để xử lý, chuyên gia pháp lý về sở hữu trí tuệ Trương Anh Tú, Chủ tịch Công ty TNHH Trương Anh Tú ( TAT Law Firm) cho biết, không nên dàn trải nguồn lực vào hàng nghìn đường link nhỏ lẻ nếu các hệ thống vận hành lớn vẫn còn nguyên. Vụ điểm nên là vụ có nội dung bị xâm phạm rõ, chủ thể quyền rõ, mô hình thu tiền hoặc quảng cáo rõ, dữ liệu kỹ thuật đủ mạnh và khả năng tạo hiệu ứng răn đe cho thị trường.
Bảo vệ bản quyền trực tuyến không thể chỉ là “cuộc đua” gỡ link, mà đó là năng lực chuyển dữ liệu số thành chứng cứ, chuyển chứng cứ thành trách nhiệm pháp lý và chuyển từng vụ xử lý thành tín hiệu răn đe. Khi làm được điều đó, Việt Nam không chỉ bảo vệ chủ sở hữu nội dung mà còn bảo vệ ngành công nghiệp sáng tạo, môi trường kinh doanh số và năng lực nội sinh của kinh tế số.











Ý kiến bạn đọc