Nhóm nghiên cứu của Đại học Stanford (Hoa Kỳ) phối hợp Nhà xuất bản Elsevier vừa công bố bảng dữ liệu các nhà khoa học có ảnh hưởng hàng đầu thế giới năm 2026, thường được gọi là danh sách “Top 2% nhà khoa học thế giới”. Theo danh sách xếp hạng dựa trên thành tựu trọn đời, có 121 nhà khoa học mang địa chỉ nghiên cứu tại Việt Nam, thuộc 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo.
Trường đại học VinUni dẫn đầu về số lượng với 16 nhà khoa học, tiếp đến là Trường đại học Tôn Đức Thắng với 14 người và Trường đại học Duy Tân với 13 người. Đại học Quốc gia Hà Nội có 7 nhà khoa học được xếp hạng, là cơ sở có số lượng cao nhất trong nhóm các đại học quốc gia và đại học vùng theo số liệu được công bố.
Các cơ sở khác có số lượng đáng chú ý gồm Đại học Bách khoa Hà Nội với 6 người; Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và Trường đại học Phenikaa, mỗi cơ sở có 5 người.
Kết quả này phản ánh sự hiện diện của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo tại Việt Nam trong cộng đồng khoa học quốc tế, đồng thời cho thấy vai trò của cả đội ngũ chuyên gia quốc tế đang làm việc trong nước và những nhà khoa học phát triển sự nghiệp lâu dài tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.
Trong nhóm 10 nhà khoa học có địa chỉ nghiên cứu tại Việt Nam được xếp hạng cao nhất theo danh sách này, các lĩnh vực nổi bật gồm y sinh học, năng lượng, y học nhiệt đới, trí tuệ nhân tạo, vật liệu, y tế công cộng, hóa học polymer, tài chính, vật lý hóa học và kỹ thuật công nghệ.
Dẫn đầu nhóm là Giáo sư David R. Bangsberg, Trường đại học VinUni, thuộc lĩnh vực y sinh học, với thứ hạng 8.926 trên thế giới. Tiếp theo là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Anh Tuấn, Trường đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc lĩnh vực năng lượng, xếp hạng 11.632; Giáo sư J. Kevin Baird, Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam, thuộc lĩnh vực y học nhiệt đới, xếp hạng 13.083.
Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Giáo sư Đỗ Ngọc Minh (Trường đại học VinUni, trí tuệ nhân tạo); Giáo sư Choi Seung Bok (Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, vật liệu); Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Bách (Đại học Quốc gia Hà Nội, y tế công cộng); Giáo sư Phan Thiện Nhân (Trường đại học Cửu Long, hóa học polymer); Giáo sư, Tiến sĩ Võ Xuân Vinh (Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tài chính); Giáo sư Nguyễn Minh Thọ (Trường đại học VinUni, vật lý hóa học) và Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội, kỹ thuật công nghệ).
Danh sách này thống kê theo địa chỉ nghiên cứu và cơ quan công tác được ghi nhận, không đồng nghĩa toàn bộ 121 người đều là nhà khoa học mang quốc tịch Việt Nam. Sự hiện diện của các giáo sư quốc tế tại các cơ sở trong nước cũng là một phần của bức tranh hội nhập khoa học.
Kết quả này cho thấy các cơ sở giáo dục đại học đang ngày càng trở thành địa chỉ tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế. Việc thu hút chuyên gia có uy tín có thể góp phần mở rộng hợp tác học thuật, phát triển các nhóm nghiên cứu và tăng cường kết nối giữa các nhà khoa học trong nước với cộng đồng nghiên cứu toàn cầu.
Với 121 nhà khoa học thuộc 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo có tên trong danh sách thành tựu trọn đời năm 2026, kết quả xếp hạng là một chỉ dấu về mức độ hiện diện của khoa học Việt Nam trong mạng lưới nghiên cứu quốc tế. Từ kết quả này, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục thu hút những nhà khoa học có ảnh hưởng mà còn tạo điều kiện để đội ngũ trong nước phát triển, các nhóm nghiên cứu được củng cố và tri thức khoa học được chuyển hóa thành năng lực công nghệ, sản phẩm và giá trị thiết thực cho đất nước.
![]() |











Ý kiến bạn đọc