Thực trạng khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng
HGĐT- Tìm hiểu về thực trạng việc khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) trên địa bàn tỉnh ta trong những năm qua, ông Nguyễn Xuân Hùng, Phó Giám đốc Sở Xây dựng cho biết: Hiệntrên địa bàn tỉnh ta có tới hàng chục cơ sở đang khai thác và chế biến các loại VLXD, song đều ở quy mô nhỏ, không tập trung và mang tính tự phát.
![]() |
Khai thác cát, sỏi trên sông Bạc huyện Quang Bình. |
Các cơ sở khai thác đá, cát, sỏi phần lớn có công suất dưới 10.000 m3/năm và chỉ có vài cơ sở sản xuất có công suất gần 50.000 m3/năm và thời gian khai thác cũng không quá 5 năm. Toàn bộ các sản phẩm của các cơ sở khai thác đá, cát, sỏi đều mới chỉ ở dạng sản phẩm thô, chưa qua tinh chế nên giá trị hàng hoá không cao. Các cơ sở sản xuất, chế biến đất sét làm vật liệu nung (VLN) cũng trong cùng tình trạng tương tự. Ngoại trừ 2 cơ sở sản xuất gạch bằng công nghệ lò Tuynel bao gồm: 01 cơ sở thuộc Công ty TNHH Hoàng Gia thuộc huyện Vị Xuyên công suất 20 triệu viên/năm và cơ sở sản xuất gạch bằng công nghệ lò đứng liên tục của Công ty TNHH Liên Hiệp tại huyện Yên Minh có công suất 5 triệu viên/năm. Còn lại toàn bộ các cơ sở sản xuất gạch, ngói nung trên địa bàn tỉnh đều sản xuất theo phương pháp thủ công. Hàng năm mỗi cơ sở gạch, ngói thủ công cũng cho ra lò khoảng từ 40 - 60 vạn viên. Song một thực tế cho thấy: Việc khai thác cát, đá, sỏi làm vật liệu trong thời gian qua hầu hết mang tính tự phát, không có quy hoạch nên các cơ sở khai thác, chế biến VLXD không chỉ gây lãng phí tài nguyên mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường cũng như cảnh quan... Ngoài những cơ sở sản xuất gạch, ngói nung ra, trên địa bàn tỉnh đã và đang phát triển mạnh việc sản xuất và sử dụng gạch không nung được làm từ đá xay, cát và xi măng. Việc sản xuất và sử dụng loại vật liệu này rất phù hợp với điều kiện của tỉnh do tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, đồng thời góp phần tích cực vào giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường, đa dạng hoá nguồn cung cấp vật liệu, thoả mãn được một phần nhu cầu cho xây dựng cơ bản của tỉnh. Tuy nhiên, do các cơ sở này đã hoạt động tự phát nên sản phẩm hầu như chưa được hợp chuẩn về chất lượng và kích cỡ… Đối với sản xuất xi măng, hiện trên địa bàn tỉnh duy nhất chỉ có một nhà máy sản xuất xi măng của Công ty Cổ phần Xi măng Hà Giang được sản xuất theo công nghệ lò đứng với công suất thiết kế là 4,4 vạn tấn/năm, thời gian qua đã nâng lên 7 vạn tấn/năm. Hiện tại, nhà máy đang xúc tiến việc thay đổi công nghệ sang sản xuất xi măng lò quay, công nghệ khô, công suất dự kiến đạt 30 vạn tấn/năm. Mặc dù trong những năm qua, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh đã có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân song các loại vật liệu được sản xuất trong tỉnh cũng chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% thị trường trong tỉnh, còn lại khoảng 60% VLXD trên địa bàn tỉnh phải nhập từ các tỉnh khác.
Trao đổi với chúng tôi về kế hoạch quy hoạch, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD thông thường và nguyên liệu sản xuất xi măng trong những năm tiếp theo, ông Nguyễn Xuân Hùng cho biết: Hiện Sở Xây dựng đã xây dựng xong quy hoạch các điểm mỏ khoáng sản làm VLXD trên địa bàn tỉnhgiai đoạn 2009 - 2015, có xét đến năm 2020 và được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 06/NQ - HĐND ngày 08/7/2009. Hiện nay, Sở tiếp tục tổng hợp số liệu, lập quy hoạch và trình lên HĐND tỉnh về phương án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khoáng sản làm VLXD trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2009 - 2020. Với tổng số mỏ sét làm gạch, ngói nung là 37 điểm mỏ; mỏ sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng là 03 điểm mỏ và mỏ đá làm vật liệu xây dựng thông thường và nguyên liệu sản xuất xi măng là 279 điểm mỏ. Đồng thời Sở Xây dựng cũng đã kiến nghị với tỉnh về công tác quản lý nguồn nguyên liệu sản xuất VLN không chỉ dẫn đến mất đất nông nghiệp, mà còn gây ô nhiễm môi trường… Vì vậy cần hạn chế và không khuyến khích sản xuất VLN trên địa bàn tỉnh; không gia hạn giấy phép đối với các cơ sở đang sản xuất; không cấp phép đối với những cơ sở đăng ký mới về sản xuất VLN, trừ các dự án có công nghệ tiên tiến. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật Môi trường đối với các cơ sở sản xuất, qua đó có những hình thức xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm đối với sản phẩm VLN. Đồng thời tỉnh cần có chính sách hỗ trợ về vốn, chính sách ưu đãi hoặc miễn giảm thuế đối với các đơn vị đầu tư xây dựng mới cơ sở sản xuất các loại vật liệu không nung (VLKN). Đặc biệt là đối với các dự án có công nghệ hiện đại, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng mới cơ sở sản xuất các loại VLKN tiên tiến để dần thay thế các cơ sở sản xuất các loại VLN hiện có. Cùng đó, đề nghị Bộ Xây dựng hỗ trợ tỉnh xây dựng các đề tài nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sản xuất các loại VLKN phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu về VLXD, không gây ô nhiễm cũng như bảo vệ được cảnh quan môi trường, phù hợp với quy hoạch chung của tỉnh…










Ý kiến bạn đọc