Làng giấy Bản Thanh Sơn
Nép mình bên những sườn núi ở thôn Thanh Sơn, xã Bắc Quang, làng nghề làm giấy Bản của người Dao Đỏ đã bền bỉ tồn tại hơn 100 năm qua. Từ một nghề thủ công được ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia, ngày nay nghề làm giấy Bản vẫn giữ nguyên giá trị văn hóa và mang lại sinh kế ổn định cho bản làng.
Kỹ nghệ cổ truyền dưới chân thác Thí
Dưới chân thác Thí, nơi dòng nước quanh năm mát lành chảy từ rừng sâu, người Dao Đỏ thôn Thanh Sơn đã hình thành, phát triển nghề làm giấy Bản. Làng nghề gắn chặt với nguồn nước, rừng vầu và nhịp sống bản làng suốt hơn một thế kỷ.
![]() |
| Cây “Sa kiêu” là nguyên liệu không thể thiếu để làm giấy Bản. |
Bên bể nhồi vầu, nơi thân cây vầu non được nhồi nhuyễn thành bột giấy, anh Lò Đức Chìu, sinh năm 1978 thoăn thoắt buộc lại sợi dây thừng trên xà ngang làm điểm tựa cho đôi chân trần. Dòng nước từ thác Thí chảy về ngày đêm không ngớt, hòa vào tiếng nhồi vầu đều đặn, tạo nên âm thanh quen thuộc. Người thợ Dao Đỏ nhịp đều trên lớp bột vầu trắng đục, thân người nghiêng theo từng nhịp dồn lực. Mồ hôi thấm ướt áo, hòa vào mùi vôi, mùi nhựa cây rừng, báo hiệu một mẻ giấy mới sắp hoàn thành.
Từng có 10 năm làm trưởng thôn, nay trở lại với công việc thường nhật, anh Chìu có nhiều hơn thời gian làm giấy. Anh kể: “Người Dao Đỏ trong thôn chiếm trên 85%. Trước khi thành làng nghề, loại giấy này đã có vai trò quan trọng trong đời sống người Dao, được dùng trong các nghi lễ tâm linh như cấp sắc, cầu an, cúng tổ tiên. Bên cạnh đó, giấy còn được sử dụng để viết chữ Nôm Dao, làm đồ thủ công và đốt thay cho vàng mã trong các dịp lễ, Tết” - anh nói, tay vẫn không ngừng xếp những khối vầu ngâm chuẩn bị cho nhiều công đoạn kế tiếp.
![]() |
| Anh Hoàng Thùng Siểu cắt giấy Bản và xếp thành từng bục. |
Nghề làm giấy Bản ở Thanh Sơn được cha ông truyền lại khoảng những năm 1920. Thuở nhỏ, anh Chìu theo chân người lớn lên rừng lấy vầu, cây rừng về ngâm nước, rồi đứng hàng giờ nhìn các bà, các mẹ tráng từng tờ giấy mỏng trên khuôn gỗ. Những động tác tưởng chừng đơn giản ấy, phải mất nhiều năm mới làm thuần thục, bởi chỉ cần non tay, giấy sẽ vón cục hoặc rách, không thể sử dụng được.
Để có được tờ giấy Bản trải qua nhiều công đoạn phức tạp với nguyên liệu đều lấy từ rừng. Cây vầu non được chọn khi vừa ra lá, chẻ nhỏ thành từng khúc rồi ngâm trong nước vôi 1 tháng, sau đó vớt ra rửa sạch rồi lại ngâm với nước sạch 1,5 tháng, khi mềm nhũn thì vớt ra cất trong bao tải gai. Ngoài cây vầu thì nguyên liệu để tạo nên giấy Bản là nhựa dây leo, trong tiếng Dao gọi là cây “Sa kiêu”. Việc lấy nhựa cây cũng nhiều kỳ công. Sau khi lấy từ rừng cây được chặt nhỏ, cho vào bể ngâm nước để tiết ra thứ chất keo tự nhiên đặc biệt. Chính nhựa cây quyết định độ kết dính, độ dai và màu sắc đặc trưng của giấy Bản Thanh Sơn.
Không chỉ anh Chìu, những thợ giấy ở Thanh Sơn đều hiểu rõ sự nhọc nhằn của từng công đoạn. Anh Hoàng Thùng Siểu bật mí, để nhồi vò một mẻ vầu tơi thành bột thì 1 người phải làm khoảng gần 2 ngày. Bột vầu sau khi trộn với nhựa “Sa kiêu” sẽ dùng khuôn gỗ nhúng vào bể nước bột, lắc đều rồi nhấc lên dứt khoát để lớp bột giấy dàn mỏng, bám đều trên mặt khuôn. Những tờ giấy ướt sau đó được dán lên vách gỗ để hong khô nhờ nắng và gió tự nhiên. Ngày nắng hanh, chỉ một tiếng là giấy khô, nhưng gặp trời nồm ẩm thì phải chờ 2, 3 ngày mới bóc được. Mỗi tờ giấy Bản ra đời vì thế không chỉ kết tinh từ vầu rừng, nước suối và nắng gió, mà còn là kết quả của sự bền bỉ được truyền qua nhiều thế hệ của người Dao Đỏ.
Di sản “sống” cùng đời sống
Dù trải qua bao đổi thay, nghề làm giấy Bản được giữ gìn như sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại và gửi gắm tri thức của cộng đồng. Năm 2018, kỹ thuật làm giấy Bản của người Dao Đỏ thôn Thanh Sơn được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia. Cũng từ dấu mốc ấy, làng nghề ngày càng phát triển, dần trở thành sinh kế ổn định cho người dân.
Ông Triệu Trần Phú, Trưởng thôn Thanh Sơn chia sẻ: “Sự đổi thay lớn nhất của làng nghề không nằm ở kỹ thuật, mà ở vị thế của nghề trong đời sống hôm nay. Nếu như trước kia giấy Bản chỉ được làm cầm chừng để phục vụ nghi lễ trong thôn thì nay đã trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình. Toàn thôn hiện có 145 hộ thì có trên 90 hộ duy trì nghề thường xuyên, tổng sản lượng khoảng 3 vạn bục giấy/năm. Giá bán dao động từ 220 - 250 nghìn đồng/bục đã mang lại nguồn thu ổn định, giúp nhiều gia đình sống chủ yếu bằng nghề. Chính việc hình thành làng nghề đã giúp giấy Bản không bị mai một và đứng vững trong nhịp sống hiện đại”.
![]() |
| Công đoạn tráng giấy đòi hỏi nhiều khéo léo và tỉ mỉ. |
Ở tuổi ngoài 70, ông Lý Văn Vạng được xem “cột mốc” ký ức của làng nghề làm giấy Bản Thanh Sơn. Ông nhớ rõ từng câu chuyện cha ông truyền lại, từ thuở cả thôn chỉ vài nóc nhà làm giấy để dùng trong lễ cúng. Ông nói chậm rãi: “Giữ nghề trước hết là giữ đạo. Giấy làm hỏng thì phải ngâm lại làm lại, không được bán, người học nghề phải biết kính trên, nhường dưới, làm nghề bằng cái tâm ngay thẳng. Giấy Bản chủ yếu phục vụ nghi lễ, vì thế người làm nghề phải giữ sự trong sạch từ đôi tay đến tâm ý”.
Khác với lớp cao niên giữ nghề bằng ký ức, anh Hoàng Văn Siểu, sinh năm 1990, gắn bó với giấy Bản bằng cách tiếp nối sinh kế. Gia đình anh nhờ liên kết tiêu thụ với các đại lý ở phường Hà Giang 2, giấy làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Theo anh, làm giấy không phụ thuộc quá vào thời tiết nên những lúc nông nhàn có thể tranh thủ sản xuất. Nhờ có đầu ra ổn định, cho thu nhập khá nên gia đình yên tâm giữ nghề của tổ tiên truyền lại.
Không chỉ dừng lại ở việc giữ nghề, người dân thôn Thanh Sơn còn được chính quyền địa phương đồng hành đưa giấy Bản gắn liền với đời sống đương đại, trở thành sản phẩm du lịch trải nghiệm và kết nối đưa lên sàn thương mại điện tử. Giữa dòng thác Thí thơ mộng, hồn cốt núi rừng và sự bền bỉ của một nghề cổ đang được gìn giữ, trao truyền và sống cùng bản làng hôm nay.
Phạm Hoan













Ý kiến bạn đọc