Tiếng dân tộc - hành trang cần thiết cho cán bộ công tác ở miền núi
HGĐT- Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc tăng cường nguồn nhân lực cho khu vực miền núi nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH ở nơi đây. Với Hà Giang hàng chục năm qua, lớp lớp các thế hệ cán bộ, trí thức, công nhân… nối nhau đến với Hà Giang, đặc biệt là trong phong trào “ánh sáng văn hoá”, xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho đồng bào.
Hàng ngàn giáo viên đã tình nguyện, xung kích lên những vùng rẻo cao, góp phần nâng cao dân trí, làm thay đổi tư duy của người dân nơi đây.
Thực tế cho thấy, ở nơi nào có lực lượng cán bộ, giáo viên gần dân, am hiểu cặn kẽ về cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của dân thì hiệu quả công việc sẽ rất cao và ngược lại. Chúng ta đều biết với lịch sử bao đời sống trên vùng miền núi biên cương, những phong tục, tập quán sinh hoạt của đồng bào vùng cao có sự khác biệt khá lớn so với đồng bào miền xuôi, đặc biệt là về ngôn ngữ. ở nhiều vùng khó khăn, đồng bào còn e ngại tiếp xúc với cán bộ, có người còn có tâm lý tự ty nên dù có biết tiếng phổ thông nhưng vẫn nói “chi pâu” (không biết) với cán bộ. Vì vậy, để hiểu được đồng bào một cách cặn kẽ thì phải hiểu và biết ngôn ngữ bản địa. Thông qua ngôn ngữ có thể hiểu được lối tư duy, tập tính sinh hoạt của đồng bào và dễ dàng hoà nhập với đồng bào.
Năm 1961, khi lên thăm Hà Giang, Bác Hồ nói với cán bộ và nhân dân trong tỉnh rằng: “Cán bộ các nơi khác đến, không biết tiếng địa phương thì phải học tiếng địa phương. Bởi vì không có thể cán bộ đi công tác đều phải có một người phiên dịch. Dù có người phiên dịch thì nói chuyện cũng khó khăn. Không biết tiếng thì nói chuyện với đồng bào dân tộc không được”. Ngôn ngữ chính là cầu nối giúp cho sự gần gũi với đồng bào được dễ dàng. Cán bộ biết tiếng của đồng bào sẽ dễ dàng tiếp cận, giải thích và tuyên truyền cho đồng bào về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Nhiều lần đi cơ sở, tôi thấy không ít đồng bào ta còn chưa biết nói tiếng phổ thông, đặc biệt là lớp người trung tuổi ở những vùng biên giới, vùng sâu, xa. Khó khăn hơn nữa là các cháu ở tuổi mầm non chuẩn bị lên lớp 1, có nhiều cô giáo “bó tay” vì không hiểu được các em nói gì và cũng không dạy được vì các em chưa biết tiếng phổ thông. Có những người dân đến Trạm y tế chữa bệnh chỉ biết nói tiếng địa phương trong khi cán bộ y tế lại không biết tiếng của đồng bào… Từ đó phần nào tạo ra khoảng cách giữa cán bộ với đồng bào.
Khắc phục điều này, trong những năm qua tỉnh ta hết sức quan tâm và đéng viên cán bé, công chức học tiếng dân tộc. Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban Dân tộc tôn giáo và nhiòu đơn vị quân đội… mở các lớp học tiếng dân tộc Mông, Dao, Nùng cho các học viên là cán bộ, công chức, bộ đội… Điều này giúp cán bộ trang bị được vốn ngôn ngữ bản địa, hiểu thêm về phong tục, tập quán của đồng bào do đó có tác dụng tích cực đối với c”ng tác của cán bộ. Nhiều cán bộ, giáo viên, bộ đội cũng tự tìm tòi học tiếng dân tộc, hoà nhập tốt với cuộc sống của đồng bào nhờ việc nói rất giỏi tiếng dân tộc và cũng thêm yêu nghề, yêu quê hương mới.
Tuy nhiên, với hàng vạn công chức, viên chức, giáo viên, cán bộ y tế… từ tỉnh đến cơ sở hiện nay, trong đó một bộ phận không nhỏ là người miền xuôi lên thì việc học tiếng dân tộc cũng hết sức cần thiết. Việc học tiếng dân tộc không quá khó, ngược lại càng thuận lợi vì chúng ta đang sống giữa lòng đồng bào, có thể trao đổi, thực hành giao tiếp hàng ngày. Nếu như cán bộ, công chức dưới xuôi nhiều nơi bắt buộc phải học tiếng nưíc ngoài thì đối với cán bộ, công chức ở vùng miền núi nên chăng cần đặt ra yêu cầu là học tiếng dân tộc!?. Việc triển khai cũng không quá khó, nhiều cán bộ, đảng viên của chúng ta là người bản địa nên chúng ta có thể trưng tập, sử dụng những người có khả năng truyền đạt để dạy tiếng dân tộc cho mọi người. Cán bộ, đảng viên ngày đi làm, tối đi học tiếng dân tộc, đó phải chăng là biện pháp thiết thực góp phần giúp cho công cuộc phát triển kinh tế, xoá nghèo và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh trên địa bàn tỉnh ta.









Ý kiến bạn đọc