Bảo tồn nghề chạm bạc người Dao ở Cao Bồ
Dưới dải Tây Côn Lĩnh mây phủ quanh năm, xã Cao Bồ tỉnh Tuyên Quang vẫn giữ được một nghề truyền thống lặng lẽ mà bền bỉ như chính nhịp sống của người Dao áo dài nơi đây: Nghề chạm khắc bạc.
Bạc là linh hồn của trang phục và tín ngưỡng
Với người Dao, bạc không đơn thuần là kim loại quý. Bạc trắng là vật bất ly thân, là vật thiêng, là bùa hộ mệnh. Từ khi đứa trẻ tròn một tuổi được đội chiếc mũ đính bạc để ngăn tà ma, đến lúc trưởng thành, cưới hỏi, cấp sắc hay khi về với tổ tiên, bạc luôn hiện diện như một phần của đời sống. Bạc là của cải, là phúc lộc, là sự gửi gắm niềm tin vào sự che chở của tổ tiên và thần linh.
Chính từ nhu cầu làm đẹp và nhu cầu tâm linh ấy, nghề chạm khắc bạc của người Dao áo dài ở Cao Bồ ra đời và được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trải qua khoảng bốn đời truyền nối, những người thợ bạc vẫn âm thầm giữ bí quyết nghề trong phạm vi gia đình, dòng họ.
![]() |
| Phụ nữ Dao áo dài thực hiện chế tác, hoàn thiện các sản phẩm trang sức bạc truyền thống. |
Trong bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Dao áo dài, ánh bạc là điểm nhấn rực rỡ nhất. Vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, xà tích, cúc áo… mỗi món đều được chạm khắc tinh xảo. Hình mặt trời ở trung tâm cúc áo không chỉ là họa tiết trang trí mà là biểu tượng của mối liên hệ giữa con người với trời cao và tổ tiên. Hình bát hương gợi nhắc đạo hiếu. Hình con chó trên xà tích liên quan đến truyền thuyết nguồn gốc của người Dao, như một dấu hiệu nhận biết để khi chết đi, linh hồn có thể tìm đường trở về.
Hoa văn không chỉ để làm đẹp. Hoa văn còn là ngôn ngữ. Mỗi đường đục, mỗi nét chạm là một lời nhắn gửi về cội nguồn.
Ông Nguyễn Đình Tuyên, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Cao Bồ cho biết, địa phương hiện có 798 hộ người Dao áo dài, nhưng chỉ còn khoảng 30 hộ duy trì thực hành nghề chạm bạc. Theo ông, đây không chỉ là một nghề thủ công mà còn là di sản văn hóa quan trọng gắn với bản sắc cộng đồng. “Chúng tôi xác định phải bảo tồn nghề gắn với sinh kế, gắn với du lịch cộng đồng. Khi người dân thấy nghề mang lại thu nhập và niềm tự hào, họ sẽ tự gìn giữ,” ông Tuyên nhấn mạnh.
Từ bễ thổi lửa đến đường đục tinh xảo
Trong gian nhà gỗ mộc mạc, bễ thổi làm từ gỗ thông, lò nấu bạc được lót đất sét, gáo nấu bằng đất trắng… tất cả đều do chính người thợ tự chế tạo hoặc gìn giữ qua nhiều đời. Khi bễ thổi nhịp nhàng đẩy gió vào lò, than gỗ sến đỏ cháy rực, bạc thỏi dần tan chảy thành dòng ánh sáng lỏng.
Ông Đặng Văn Goặt, một nghệ nhân lâu năm ở Cao Bồ, chia sẻ rằng làm bạc không chỉ cần khéo tay mà phải hiểu ý nghĩa của từng họa tiết. “Chạm sai một nét là mất hồn sản phẩm. Người thợ phải biết mình đang khắc gì, gửi gắm điều gì vào đó. Bạc không chỉ để đeo, mà là để tổ tiên nhận ra con cháu,” ông nói, đôi tay vẫn thoăn thoắt trên mặt đe.
Sau khi nung chảy, bạc được đổ vào máng, đưa lên đe tạo hình rồi chạm khắc hoa văn bằng bộ đục chuyên dụng. Có những họa tiết chỉ vài milimet nhưng phải mất hàng giờ tỉa tót. Một chiếc vòng cổ có thể cần nhiều ngày hoàn thiện. Mỗi sản phẩm là sự kết tinh của tri thức dân gian, của kinh nghiệm chọn bạc, nung bạc, pha chế, đánh bóng.
![]() |
| Nghệ nhân người Dao xã Cao Bồ thực hiện công đoạn đổ khuôn bạc sau khi nung chảy trong lò thủ công. |
Trong lễ cưới, đôi vòng tay bạc là lễ vật không thể thiếu. Trong tang lễ, người mất được ngậm bạc để mang theo lời tốt đẹp về với tổ tiên. Trong lễ cấp sắc, bạc hiện diện như chứng tín thiêng liêng đánh dấu sự trưởng thành.
Giữa bối cảnh sản phẩm công nghiệp tràn ngập thị trường, nghề chạm bạc ở Cao Bồ từng có lúc thu hẹp. Thế nhưng, những năm gần đây, khi du khách tìm đến trải nghiệm văn hóa vùng cao, ánh bạc lại có cơ hội tỏa sáng theo cách khác.
Chị Nguyễn Thị Thu Hà, du khách đến từ Hà Nội, lần đầu ghé Cao Bồ trong chuyến du lịch cộng đồng, bày tỏ ấn tượng: “Tôi từng thấy trang sức bạc Dao trong bảo tàng, nhưng khi tận mắt xem nghệ nhân chạm từng nét hoa văn, tôi mới cảm nhận được chiều sâu văn hóa của nó. Mỗi sản phẩm giống như một câu chuyện sống động”.
Theo chính quyền địa phương, định hướng sắp tới là gắn nghề chạm bạc với sản phẩm đặc trưng vùng cao, kết hợp trưng bày, trải nghiệm, giới thiệu quy trình chế tác cho du khách. Việc đề nghị công nhận nghề là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cũng là bước đi quan trọng nhằm bảo tồn lâu dài.
Giữa những đổi thay của thời cuộc, khi nhịp sống hiện đại len sâu vào từng bản làng vùng cao, ánh bạc nơi Cao Bồ vẫn lặng lẽ giữ cho mình một thứ ánh sáng riêng - thứ ánh sáng không chỉ phản chiếu mặt trời, mà còn phản chiếu ký ức của cả một cộng đồng. Trong tiếng bễ thổi lửa trầm đều, trong nhịp búa gõ lên mặt đe vang vọng giữa núi rừng, người ta nghe được hơi thở của bao thế hệ đã gửi gắm niềm tin vào bạc trắng như gửi gắm vào tổ tiên và đất trời.
Mỗi chiếc vòng cổ, mỗi chiếc cúc áo, mỗi xà tích ngân lên tiếng leng keng trong gió không đơn thuần là món trang sức, mà là lời nhắc nhớ về nguồn cội. Bạc theo con người từ lúc lọt lòng đến khi trưởng thành, cưới hỏi, rồi trở về với tổ tiên. Bạc chứng kiến vòng đời khép mở, giữ lại niềm tin rằng con người dù đi xa đến đâu cũng không rời khỏi cội rễ văn hóa của mình.
Giữa miền núi cực Bắc, nơi mây trắng trôi ngang đỉnh Tây Côn Lĩnh và nắng sớm còn đọng trên những nếp nhà sàn, hồn bạc trắng Cao Bồ vẫn lấp lánh như một mạch nguồn bền bỉ. Đó là mạch nguồn của sự tiếp nối, của lòng tự trọng văn hóa và của khát vọng gìn giữ bản sắc giữa dòng chảy không ngừng của thời gian. Và chừng nào còn bàn tay người thợ cần mẫn đặt từng nét đục lên mặt bạc, chừng đó ánh sáng ấy vẫn còn soi rọi, làm ấm lòng người giữa miền biên viễn của Tổ quốc.
Bài, ảnh: Đức Quý












Ý kiến bạn đọc