Tứ thơ xưa, vẫn không lạc nơi về…
Nhắc đến Đại tá, Nhà báo, Nhà thơ, Nhà biên dịch Hồng Thanh Quang, hẳn không cần phải giới thiệu gì thêm, nhất là với công chúng nghệ thuật và báo chí khoảng vài chục năm nay…
Tôi và Hồng Thanh Quang là đồng đội và đồng nghiệp cùng cơ quan từ gần bốn chục năm trước. Mùa hè năm 1989, hai chúng tôi đang là những phóng viên trẻ độc thân, được lệnh sang Campuchia đưa tin về chiến sự ở những hướng ác liệt nhất, trước đợt rút quân cuối cùng của Bộ đội Việt Nam về nước, cuối tháng 9 năm đó. Từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tìm mọi phương tiện giao thông để sang Thủ đô Phnompenh. Từ đó lại bằng mọi cách để lên mặt trận Pailin, một vùng rừng núi hiểm trở phía Tây, tiếp giáp với Thái Lan. Pailin lúc đó là căn cứ của tàn quân Polpot.
![]() |
| Đại tá, Nhà báo, Nhà thơ, Nhà biên dịch Hồng Thanh Quang. |
Hơn một tháng bám sát các phân đội chiến đấu của Sư đoàn 330, một lần cả hai suýt chết trên đường 10B đoạn qua Xangke vì đi nhờ xe của phòng Hậu cần bị trúng mìn địch, may mà chúng tôi ngồi trên xe tải chở gạo. Cuối tháng 8, chúng tôi lại tìm mọi cách để trở về Phnompenh. Hôm đầu tiên từ Pailin về Nhà khách của Mặt trận 479, Hồng Thanh Quang lục ví đưa cho tôi ba trăm ngàn đồng tiền Việt, xấp xỉ một tháng lương Trung úy hồi đó, bảo: “Bọ ki bo giữ hộ để hôm nào về Sài Gòn còn có tiền mua vé tàu ra Hà Nội, để trong ví tôi thì chỉ vài hôm là hết”.
Nói thế, nhưng hôm sau đi chơi chợ Olimpic, mấy lần Quang gạ tôi đưa lại một trăm ngàn để “xông xênh”, nhưng tôi kiên quyết không đưa. Chiều đó, Quang một mình đi chợ, mua một tá lọ “U-vê” là loại kem bôi da hồi đó con gái Hà Nội rất chuộng, nhưng chiếc đồng hồ “Pôn-dốt” Liên Xô trên cổ tay Quang thì không còn nữa. Hỏi thì y chỉ cười cười. Trời ạ, chiếc đồng hồ ấy là bố của Quang được mua theo tiêu chuẩn Đại tá. Hôm Quang thi đỗ Đại học Kỹ thuật Quân sự, đủ điểm đi học kỹ sư vô tuyến điện ở nước ngoài, được ông cụ thưởng cho (!)
Thân quen nhau đã lâu, hiểu về nhau khá kỹ, thế mà tôi chưa bao giờ “cho” Hồng Thanh Quang lên báo. Đôi khi có đồng nghiệp báo bạn nhờ viết bài về tác giả và tác phẩm của Hồng Thanh Quang, tôi cứ nửa đùa nửa thật bảo là viết về người nổi tiếng như Hồng Thanh Quang rất khó, vì người ta viết nhiều rồi, khai thác hết mọi chuyện rồi, chẳng lẽ tôi lặp lại những điều người ta đã viết?
Ấy thế mà mới đây, tôi phát hiện ra một điều chưa ai nói đến, đó là trong gia tài hơn chục tập thơ đã xuất bản của Hồng Thanh Quang, có rất nhiều bài là những nỗi niềm thổn thức đắm đuối vui buồn ở Hà Giang và Tuyên Quang trước đây.
Rất nhiều địa danh của miền đất này được nhắc đến trong thơ Quang với những cung bậc khác nhau, nhưng đều rất… lụy tình. Chỉ tính riêng một cao nguyên Đồng Văn, đã có hơn chục thi phẩm như thế. Này là một lần đón Tết ở Đồng Văn, hơn 30 năm trước, khi Hồng Thanh Quang đang giữa tuổi yêu:
Bốn phía sương mù quánh lại,
Biết mình duyên đá không hơn.
Đêm nay vẫn nhiều băng giá,
Giao thừa, em cũng cô đơn?
Tôi uống, Đồng Văn lệch đất,
Quên mình tuổi mới không em.
Bạn gái người Mông ngưng hát,
Lặng thầm vun đốt bình đêm…
(Tết ở Đồng Văn)
Này là nỗi nhớ thường trực mảnh đất ấy, với những con người và cảnh vật dường như đã khắc sâu trong tâm tưởng nhà thơ: Tôi bỗng nhớ cao nguyên bụi đỏ/ Vồng ngực trần che khuất vầng dương.../ Tôi bỗng nhớ Hà Giang tím gió/ Nếp nhà sàn nép bóng vào sương... (Và bắt đầu cất lên giọng hát).
Này là một nỗi nhớ dịu ngọt được diễn tả bằng thể thơ lục bát hết sức dịu dàng:
Đêm nay người ở Đồng Văn,
Bao nhiêu phiến đá nổi vằn trăng lu
Lạnh khuya đông đặc sương mù,
Ta ôm phải gió mà như chạm tình
Tiếng khèn bất giác tâm linh
Giấu vào tục luỵ những xinh đẹp mùa...
(Nhớ Đồng Văn)
Còn đây là lần trở lại Đồng Văn gần nhất, sau đằng đẵng hơn 30 năm thao thiết với miền đất ấy: Hoa anh đào đốt lửa hồng Lũng Cú/ Tàn tro nào, ta ủ ấm niềm tin/ Em có lẽ đã quên rồi quá khứ/ Những ngày buồn đã đỡ nhau lên... (Đường về Lũng Cú). Ấy là những bài thơ mà tiêu đề ghi rõ địa danh. Ngoài ra còn vô số những thi tứ, thi ảnh trong thơ Hồng Thanh Quang gợi nhớ đến “Miền gái đẹp”; nơi núi non hùng vĩ, kiên gan cao nguyên đá nhưng dìu dặt những điệu khèn và mềm mại dòng Nho Quế như một dải lụa màu ngọc bích…
![]() |
| Nhà thơ Hồng Thanh Quang (đứng trong cùng bên trái) và nhà thơ Mai Nam Thắng (ngoài cùng bên phải) trong rừng Pailin, tháng 6-1989. |
Những ai thân quen Hồng Thanh Quang đều biết rõ Tuyên Quang là quê mẹ của 2 người con nếp tẻ thông minh và giỏi giang của Quang. Nhưng tôi tin nếu không là thế, Hồng Thanh Quang vẫn viết về Xứ Tuyên như thế, bởi Quang là thi sĩ đa tình và lụy tình. Anh từng viết: Xin người trong những giấc mơ/ Trăm năm, sáng mãi giấc mơ lụy tình (Giác ngộ-2023). Hồng Thành Quang không giấu diếm mình là kẻ lụy tình.
Nhưng người đọc vẫn nhận ra thực chất đấy là tình thương yêu và lòng trắc ẩn với tha nhân và với cuộc đời của anh. Là nhà thơ thiên về trữ tình duy mĩ, Hồng Thanh Quang luôn bày tỏ thái độ hướng về cái đẹp thiện lành và nỗi buồn nhân thế. Anh đam mê viết về mỹ nhân, nhưng bằng sự trân trọng thấu cảm. Anh viết trong bộ sách “Tự nhắc mình” xuất bản mới đây, là “phải đủ dũng cảm để giữ lại nụ cười cho người mình yêu, kể cả sau khi chia ly”.
Điều thú vị là Hồng Thanh Quang đam mê hết mình, nhưng vẫn không quên những điểm yếu của sự đam mê ấy: “Người duy cảm không những thường bị những người duy lý lạm dụng và dắt mũi, mà còn luôn lầm tưởng rằng mình đang làm lay động những linh hồn của tượng đá”. Như vậy, anh viết trước hết là để tự nhắc nhở bản thân về những điều trải nghiệm. Chính sự “giác ngộ” ấy khiến những câu thơ “lụy tình” của anh luôn mang vẻ đẹp mỹ cảm.
Trở lại với bài thơ “Tết ở Đồng Văn” Hồng Thanh Quang viết hơn ba chục năm trước: Tết ở Đồng Văn, tôi biết/ Hoá thành đá dễ gì đâu/ Tôi thấy đầu tôi như đá/ Đá đau có khác tôi đau? Tuổi trẻ trai đang nồng nàn sôi nổi, mới “phải lòng” nhau đã linh cảm niềm đau. Trái tim thi sĩ đích thực mà! Cho nên, thật dễ cảm thông và sẻ chia với thi sĩ trong “Đường về Lũng Cú” mới viết gần đây:
Sao nhanh thế hai mươi năm có lẻ,
Trên đỉnh trời, mình nhạt mất tình quê...
Em đổi khác chỉ vì ta đổi khác,
Tứ thơ xưa, nay lạc nơi về...
Không cần biết nguồn cơn mây lộn hướng,
Tôi một mình tô lại những niềm phai...
Hoa anh đào đốt lửa hồng Lũng Cú,
Cho những người bên suối đợi hừng mai
Trắc trở là gia vị của tình yêu. Dỗi hờn mà viết thế thôi, chứ “hai mươi năm có lẻ” mà vẫn đi về, vẫn viết về mảnh đất và con người ở đấy, thì còn nhiều duyên nợ lắm. Cho nên, xin phép sửa một chữ trong câu thơ hờn dỗi trên đây của Hồng Thanh Quang, thay cho lời kết bài viết lan man này: Em đổi khác chỉ vì ta đổi khác/Tứ thơ xưa, vẫn không lạc nơi về...
Mai Nam Thắng












Ý kiến bạn đọc