Tản mạn chung quanh cành đào ngày Xuân
Không biết tự bao giờ, đối với người Việt Nam, hoa đào đã trở thành loài hoa mang biểu tượng của mùa xuân, nên mấy chục năm trước, thi nhân Vũ Ðình Liên chỉ viết câu thơ: "Mỗi năm hoa đào nở" là người đọc hiểu ngay đó là câu thơ viết cho thời điểm "Tết đến, xuân về".
![]() |
Đào thắm trên cao nguyên |
Có lẽ hàng nghìn năm rồi, hoa đào đã ăn sâu bám rễ vào tâm thức của không biết bao nhiêu thế hệ người Việt Nam, và sự có mặt của hoa đào trong các ngày Tết đã trở thành một mỹ tục hoàn hảo, đến mức vào chiều ngày tất niên, gia đình nào chưa có hoa đào là vẫn thấy như còn thiếu một cái gì.
Ngay cả với người Việt xa xứ cũng thế, mỗi độ xuân về ở nơi "đất khách quê người", bà con cũng cặm cụi gắn lên mấy cành cây "xứ tây" những bông hoa giấy na ná hoa đào để gợi lên hình ảnh và không khí quê nhà... Lại nhớ gần 30 năm trước, trong hành trang của các anh lính được nghỉ phép từ biên giới về quê ăn Tết, anh nào cũng vác ngất nghểu một cành đào. Tôi cũng vào rừng kiếm một cành ưng ý để đem về nhà. Ngồi trên chiếc xe tải nhảy chồm chồm qua đủ loại "ổ trâu, ổ gà", tôi và mấy anh bạn vẫn cố gắng giữ gìn cành đào và Tết năm ấy, cha mẹ tôi không đi chợ mua hoa, mà cắm vào bình cành đào rừng do tôi đã mang về từ biên giới, sau bảy mùa xuân tôi ăn Tết xa nhà.
Nếu chỉ nhằm chuyển tải ý nghĩa thực dụng, thì hẳn là trồng cây đào hay bẻ cành đào ở nơi nào mà chẳng được, miễn là có hoa cắm vào lọ, vào bình, trồng vào chậu, thậm chí một thời có gia đình còn trồng cả vào "xô". Nhưng, dẫu thế nào thì với người Việt Nam, hoa đào với tính phổ cập của nó, đã thật sự vừa là niềm vui của lớp bình dân, vừa là niềm kiêu hãnh của người phong lưu. Hoa đào đã làm nên một thú chơi có văn hóa khi vào những ngày cuối tháng Chạp, nam phụ lão ấu, trai thanh gái lịch rủ nhau dạo bước vườn đào, mua lấy một cành, chọn lấy một cây... sau lúc đã thỏa thích chụp ảnh, ngắm hoa.
Với mầu sắc rực rỡ và thanh tao của nó, hoa đào hầu như không còn là sản phẩm thuần túy vật chất, nó đã chuyển tải trong đó các giá trị tinh thần, nói cách khác thì hoa đào còn chứa đựng trong nó một ý nghĩa văn hóa. Mấy năm nay ở Hà Nội, có một số người lại nảy sinh cái thú sắm "đào rừng" vào ngày Tết, bởi thế sau ngày "ông Táo lên trời" lại thấy có mấy chiếc ô-tô chất ngất những cành đào rừng nhằm hướng Hà Nội thẳng tiến. Oái oăm thay, ngược chiều với mấy chiếc xe này lại là những ô-tô có cành đào, cây đào xếp gói cẩn thận buộc trên nóc, hay buộc sau xe máy của bà con các tỉnh về quê và đem theo món quà quý giá của ngày Tết có xuất xứ từ Quảng Bá, Nhật Tân!
Những cành đào khai thác từ tự nhiên luôn mang vẻ đẹp "tự nhiên như nhiên", có thể hợp với gu của người này lại không hợp với gu của người khác. Người ta sắm cành đào rừng từ quy chiếu thẩm mỹ riêng, hình dáng cùng vẻ đẹp của cành đào tự nhiên đã được "văn hóa hóa" tùy theo suy cảm thẩm mỹ của từng người. Còn đào trồng trong vườn thì lại ở trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác. Ngay từ lúc cây đào còn non tơ, người trồng hoa - với tất cả kinh nghiệm được tích lũy và truyền bá từ đời này sang đời khác, đã đầu tư công sức, trí tuệ để uốn cành, tỉa lá, tạo dáng, đảo gốc... để sau một năm, các cây đào không những nở hoa trước ngày 30 Tết, mà còn mang theo ý nghĩa thể hiện nhu cầu tinh thần.
Rồi khi người mua đào đi qua đi lại, ngắm nghía ngược xuôi để chọn một cành, chọn một cây, hay một nắm cành nhỏ... thì việc sắm hoa Tết không chỉ là câu chuyện của túi tiền, mà còn là một cố gắng để tìm tiếng nói chung giữa cành đào, cây đào với quan niệm thẩm mỹ của người mua và với chính người trồng hoa. Chẳng thế mà ai ai cũng tỏ ra thích thú khi được người khác khen là tinh tế, là "sành điệu" vì đã chọn được một cành, một cây đào đẹp. Nhìn vẻ hân hoan của những người vừa đi vừa vác trên vai cành đào, mọi người dễ sẻ chia và đồng cảm. Ðấy là chưa kể có người về đến nhà rồi vẫn còn xuýt xoa tiếc nuối vì đã bỏ lỡ dịp mua một cành, một cây vừa ý.
Và như thế bao nhiêu năm qua, hoa đào trở thành một sản phẩm của tự nhiên đã được "nhân tính hóa", nên về sâu xa, mỗi cây đào, mỗi cành đào đã tự mang trong nó các tiêu chí thẩm mỹ của con người. Cùng với thời gian, những khoái cảm thẩm mỹ do hoa đào đem tới đã được bồi đắp và đúc kết để trở thành một mỹ tục không thể thay thế trong ngày Tết của người Việt Nam. Hoa đào đã hiện diện một cách kiêu hãnh trong những ngày Tết, mà thiếu nó, mọi người thấy Tết như là chưa hoàn chỉnh.
Với trình độ phát triển của thời đại, ngày nay con người đã có khả năng sản xuất hàng loạt quần áo, xe máy, ti-vi, máy vi tính, máy bay... nhưng thiết nghĩ khó có thể tổ chức sản xuất hàng loạt để làm ra những cây đào khác nhau. Vì như trên đã nói, trong sâu thẳm của nó, mỗi cây đào là một cá tính thẩm mỹ, nên sẽ là một thách thức khó vượt qua nếu ai đó muốn trồng hoa đào theo lối đại trà như trồng hoa hồng trên các thửa ruộng ở Mê Linh hay Sa Pa.
Tương tự như thế, có thể nói về "phở Hà Nội". Ở Hà Nội, không phải hàng phở nào cũng đông khách vì ngon, tính ra chỉ có vài ba hàng là có khả năng khiến người đã một lần ghé thăm là không quên được. Chủ nhân của mọi hàng phở có thể nắm vững "bí quyết" làm phở, nhưng thực hành như thế nào thì không phải bất cứ ai cũng thông thạo và làm ra kết quả đúng như ý muốn. Sau này biết đâu sẽ có người sáng chế ra một chiếc "máy làm phở" có thể đáp ứng cấp tập hàng nghìn thực khách, nhưng chắc chắn "chiếc máy" đó không thể tạo ra hương vị, tạo ra không khí đặc trưng mà một ông chủ hàng phở phải mất hàng chục năm đứng trước quầy hàng mới rút đúc và chế biến được bát phở như là sự gặp gỡ giữa sở thích - khẩu vị của chính ông với sở thích - khẩu vị của số đông thực khách.
Trong khi đó, bánh cuốn Thanh Trì, cốm làng Vòng... xét đến cùng lại là loại sản phẩm có thể sản xuất hàng loạt, miễn là người sản xuất nắm được công thức, bí quyết sản xuất. Có thể ở Thanh Trì, ở làng Vòng có gia đình làm bánh cuốn ngon hơn, làm cốm ngon hơn các gia đình khác, song dù thế nào thì các địa chỉ ấy vẫn có ý nghĩa trong phạm vi hẹp. Khi hàng hóa đã được đem ra với công chúng rộng rãi, khi bánh cuốn hay cốm đã nằm trong đôi quang thúng theo bước chân duyên dáng của các cô gái làng dạo trên hè phố, thì chúng không còn ý nghĩa ấy nữa, nếu không nói đã mất hẳn. Người ta chỉ biết đó là cốm làng Vòng, là bánh cuốn Thanh Trì - những đặc sản ngày nay đang ở trong tình trạng thực hư khó phân biệt!
Thêm nữa, như với tàu điện bánh sắt - đường ray ở Hà Nội ngày trước. Tàu điện là phương tiện văn minh giao thông của một thời. Ðối với thế hệ người Hà Nội năm nay trên dưới tứ tuần, đã có những năm tháng làm quen với tiếng chuông leng keng của tàu điện chạy trên phố. Nhưng khi các phương tiện giao thông văn minh hơn, vừa túi tiền hơn, phù hợp với sở thích hơn như xe máy, ô-tô trở nên phổ biến, thì sự thiếu vắng tiếng chuông tàu điện không còn quan trọng, chỉ gợi lên kỷ niệm của một thời, và đám trẻ choai choai cũng không háo hức khi nghe kể chuyện ngày xưa ở Hà Nội có tàu điện như thế nào và cha chúng từng "đu boong, nhảy tàu" như làm xiếc ra sao. Tàu điện như thế chỉ còn là kỷ niệm của ký ức thế hệ chứ không phải là ký ức của thời gian (?).
Xã hội phát triển, chúng ta không thể khư khư giữ lấy các sự vật - hiện tượng mang ý nghĩa cổ truyền, và về nguyên tắc, chỉ có cái cổ truyền nào tìm được tiếng nói chung với cái hiện đại thì mới có khả năng tồn tại, còn nếu không, sẽ bị đào thải. Song chính ở đây, lại cần có cái nhìn tỉnh táo trong việc chọn lọc, nhất là với trường hợp cái cổ truyền lại góp phần tạo ra bản sắc riêng của mỗi vùng văn hóa.
Như với Thủ đô Hà Nội chẳng hạn, về lâu dài, một câu hỏi đang đặt ra là có nhất thiết Hà Nội sẽ phải được xây dựng thành một đô thị như Bắc Kinh, Tokyo, New York, Paris... hay không, hay Hà Nội phải giữ được và bổ sung thêm các bản sắc riêng, vì nếu không Hà Nội sẽ rất dễ trở thành bản sao của các đô thị khác? Thêm nữa, bản sắc tương lai của Hà Nội là gì, phải chăng đó chỉ là hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, hồ Thiền Quang hay cái sông "cụt" có tên Tô Lịch...
Và phải chăng, đến một ngày nào đó, viễn cảnh về một Hà Nội "ngựa xe như nước" lèn ứ hàng chục triệu người sẽ trở thành hiện thực và liệu rồi đây chúng ta có đi đúng vào con đường mà các nước công nghiệp đã phải trả giá khi cố gắng xây dựng các đô thị tập trung có kích cỡ quá lớn, tập trung quá đông dân cư?
Trong điều kiện mức sống ngày càng được nâng cao, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc thông suốt thuận lợi, đặc biệt do đã phải chịu hậu quả của kiểu đô thị quá tải, người đông như kiến cỏ, nhà cửa chật chội..., ở phương Tây, người ta đã tính đến mô hình xây dựng theo nguyên tắc "rải tập trung" với các đô thị vừa và nhỏ trải ra khắp quốc gia, tạo thành một hệ thống đô thị vừa tránh nạn "nhân mãn" ở đô thị, vừa tạo ra sự phát triển đồng đều của các khu vực dân cư.
Trong lịch sử dân tộc, sự "bế quan tỏa cảng" cùng kiểu tư duy tiểu nông nhỏ hẹp không cho phép cha ông chúng ta hướng tới một quá trình phát triển đô thị có lớp lang, kế hoạch. Còn hôm nay, trình độ và khả năng con người đã phát triển, điều kiện và tình huống xã hội đã khác xưa, điều đó đòi hỏi quy hoạch đô thị cần phải phóng tầm nhìn thấu tới tương lai, nếu không muốn hậu thế phải tốn công của và thời gian để khắc phục sai sót.
Không lạm bàn tới công việc của các nhà kiến trúc, chỉ bàn từ góc nhìn của bản sắc văn hóa của đô thị, thì ở Việt Nam, về bản sắc đô thị có liên quan tới các loài hoa và cây, chúng ta có thể kể ra một số địa danh nổi tiếng như Hà Nội có hoa sữa, Hải Phòng có hoa phượng, Ðà Lạt có cây thông, thành phố Lào Cai có cây gạo... Mà thật ra, hoa sữa cũng không phải là loài hoa đặc sắc đến mức người ta có thể thưởng thức hằng ngày. Hoa sữa chỉ làm say mê những người qua đường và thật sự là vấn nạn về khí thở đối với cư dân các khu phố có trồng nhiều hoa sữa. Mấy năm trước, một đô thị ở miền trung đưa hoa sữa về trồng đại trà, sau mấy năm đã phải chặt hết vì hoa sữa chỉ đem tới "nỗi khổ" cho dân cư. Trong bối cảnh đó, các làng trồng hoa ở chung quanh Hà Nội thật sự là một nét bản sắc cần được lưu giữ. Tất nhiên, để đáp ứng yêu cầu của tổ chức đô thị vừa đẹp vừa tiên tiến, các làng hoa cần được quy hoạch quy củ, hợp lý để góp phần làm nên bản sắc của Thủ đô nước Việt Nam trong thời đại mới. Bức tranh tương lai về một Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa hiện đại, đẹp và xinh xắn, có các làng trồng hoa đào độc đáo và nổi tiếng thật sự là niềm tự hào, không dễ có. Mai đây, xuân này sang xuân khác, mỹ tục văn hóa có quan hệ mật thiết với hoa đào vẫn tiếp tục góp phần làm nên tâm hồn của người Việt Nam nói chung và của người Hà Nội nói riêng. Và vào ngày giáp Tết, người Hà Nội lại rủ nhau lên Nhật Tân, Quảng Bá thủng thẳng dạo bước thỏa sức ngắm nhìn, rồi lựa chọn cho mình một cây hoa đào, một cành hoa đào ưng ý để làm đẹp sắc xuân cho gia đình mình.











Ý kiến bạn đọc