Giới thiệu tác giả mới: Nhà thơ Kim Dũng
HGĐT- Sinh tại Làng Bạch Hạc, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội liên hiệp VHNT Phú Thọ. Hiện nay là Phó Thư ký Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Phú Thọ; Phó Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ, Ủy viên Hội đồng biên tập Tạp chí VNĐT.
Tác phẩm thơ đã xuất bản: Mùa lúa mùa trăng (1978), Buồm mở cánh (1990), Khát vọng (1992), Trăng về phố (1992), Thức với dòng sông (1997), Lòng tay hình châu thổ (2004), Dấu ấn thời gian (2008), Lục bát tôi yêu (2011).
Tham gia các tuyển tập: Thơ chọn NXB Hội Nhà văn năm 1994, Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam – NXB Văn học 2000, Thầy giáo và nhà trường – NXB Giáo dục – 1999, Thơ Việt Nam (1945 – 2000) NXB lao động, 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ - NXB Văn học 2004, Tuyển tập thơ viết về Nhà thơ Tố Hữu – NXB Văn học, Tuyển tập thơ Đền Hùng – NXB Hội Nhà văn 2008.
Đã được tặng thưởng: Giải Nhì cuộc thi thơ tỉnh Vĩnh Phú năm 1980, giải thưởng cuộc thi thơ lục bát của Tuần báo Văn nghệ tổ chức năm 2002 – 2003, giải thưởng Văn học – nghệ thuật Hùng Vương của UBND tỉnh Phú Thọ (2000 – 2005), giải thưởng tuyển chọn thơ lục bát thế kỷ XX của báo Tổ quốc (Bộ VHTT) 2008. Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì. Huy chương vì sự nghiệp VHNT Việt Nam, vì sự nghiệp báo chí Việt Nam, vì sự nghiệp tư tưởng văn hóa của Ban Tuyên giáo T.Ư.
Xin giới thiệu chùm thơ của Nhà thơ Kim Dũng:
Phố cổ Đồng Văn
Phố cổ Đồng Văn
Dựa lưng vách đá
Mái ngói rêu phong – rập rờn bóng lá
Tự bao đời gắn bó bên nhau.
Đêm cao nguyên cảm hết chiều sâu
Trăng tình tứ soi nghiêng phố cổ
Những chùm đèn lồng đong đưa mờ tỏ
Từng đôi trai gái tự tình…
Tiếng kèn môi réo rắt rừng xanh
Tìm gọi bạn tình tha thiết quá
Tôi như cánh chim lạc vào đất lạ
Muốn đỗ nghỉ đêm phố cổ nguyên sơ.
Năm tháng đi qua bao cuộc gió mưa
Phố cổ sinh tồn trụ nơi biên ải
Duyên dáng quá nụ cười em gái
Sinh ra từ phố cổ hoa đào
Phố cổ Đồng Văn có tự thuở nào
Như một bảo tàng nơi sơn cước
Nơi tiềm ẩn một góc nhìn đất nước
Nơi địa đầu Tổ quốc thiêng liêng.
Biển gọi
Cuộc phân ly Lạc Long Quân – Âu Cơ
Đất nước thành hình hài một dải
Xuống biển lên ngàn những miền xa ngái
Vẫn từ trong một bọc – trứng – hồng
Thế núi
Hình sông
Nghiêng mình ra biển
Tạo nên hình hài Tổ quốc thân yêu
Hoàng Sa
Trường Sa
Và trăm ngàn đảo nhỏ
Là cơ thể thịt da ta đó
Là linh hồn Tổ quốc ở biển Đông
Con cháu Lạc Long Quân
Tự bao đời ra khơi chài lưới
Hồn đất đai gửi gắm cánh buồm
Vượt muôn ngàn sóng gió trùng dương
Đêm mưa nguồn
Nhớ nơi chớp bể
Những dân binh từ bao thế hệ
Theo lệnh triều đình gìn giữ đảo xa (1)
Hoàng Sa
Trường Sa
Biển đảo của ta
Trường tồn bao thế kỷ
Tôi đã học trong giờ địa lý
Trân tấm bản đồ - biển đảo Việt
Nếu cần đo – đo bằng Luật biển
Bằng sử xanh minh chứng tự bao đời
Bằng đạo lý và lương tâm công chúng
Bằng máu xương của Tổ quốc chúng tôi
Phải chặn lại những con tàu xâm hại
Vào vùng biển đảo của ta (2)
“
Chủ quyền bờ cõi
Tổ quốc lại âm vang lời biển gọi
Những câu thơ nổi sóng Bạch Đằng.
-----------------
(1) Từ thế kỷ XVIII, triều Nguyễn đã cắt cử dân binh thay phiên ra canh giữ đảo Hoàng Sa.
(2) Ngày 26.5.2011, tàu hải giám mang số hiệu 84 của Trung Quốc đã xâm phạm.
(3) Thơ Lý Thường Kiệt.
Chiều sông Thao
Tặng K.H
Ta buồn
Nghe nhạc Trịnh
Mưa chiều
Lá ngả màu thu
Tán cọ xòa vô tư
Chập chờn phố huyện
Chiều Lâm Thao em đến
Khúc tình ru xanh
Sông Thao mát lành
Bao lời gửi gắm
Chưa lần nào em tắm
Sông thơ chảy mãi trong hồn
Tiên Dung xưa căng buồm
Xuôi tắm
Đồng Tử vùi mình cát trắng
Duyên trời se thấu lòng nhau
Giờ ngược dòng sông Thao em tắm
Cọ xanh bóng lá nghiêng che
Anh không phải chàng Đồng Tử
Nhưng người ơi đừng về
Phố Hiến kiêu kỳ
Câu thơ xanh đáy hồn thiếu phụ
Nét nhạc Trịnh mưa bay tình tứ
Chiều sông Thao lữ khách mỉm cười.
Từ Minh Nông nghĩ về cây lúa
Các Vua Hùng gieo nắm thóc nơi này
Buổi dựng nước – vua tôi cùng cày cấy
Làng Minh Nông(*) có tên từ thuở ấy
Hạt lúa xưa để giống đến bây giờ
Câu ca mẹ ru tôi bay mãi cánh cò
Bao mùa lúa mọc trong câu tục ngữ
Tôi lớn lên học cày, học chữ
Củ khoai bùi, hạt gạo trắng nuôi tôi
Bốn nghìn năm cây lúa nước sinh sôi
Trên dải đất bao cơn binh lửa
Đất nhiệt đới nắng mưa lẫn lửa
Lúa với người khuya sớm có nhau
Cây lúa bây giờ sinh nơi ở ở đâu
Vẫn từ tay các Vua Hùng gieo hạt
Vẫn là đất của cháu con Hồng Lạc
Từ trung du lúa đến những chân trời
Tôi đến Minh Nông giữa vụ lúa tháng mười
Lúa chen lúa phơi màu vàng óng
Gió đuổi gió cho đồng nổi sóng
Mắt em cười chín rực chân mây
Tôi như con chim nhỏ về đây
Hót mê say trước màu vàng của lúa
Làng Minh Nông suốt đời tôi nhớ
Nơi cội nguồn cây lúa Việt
Mưa nguồn
Non cao mưa gió thất thường
Nên chi mưa núi nỗi buồn qua mau
Người về sùi sụt mưa ngâu
Để ai thao thức nỗi đau mưa nguồn
Rừng chiều
Rừng chiều mười vạt sương dăng
Dăm ba vệt nắng dùng dằng lưng nương
Núi cao như những cánh buồm
Mà không ra khỏi hoàng hôn miền rừng
Mảnh trăng em
Đừng ví em là
“Mảnh trăng vùi cát bụi”
Thành dòng chảy li ti rồi tan nát
Sẽ không có giọt lệ nào thánh thiện khóc đâu
Em mãi là trăng sáng đêm thâu
Giữa thiên hà vũ trụ
Cho đôi lứa yêu nhau tình tự
Trăng – em làm chứng có hay không!
Anh rất say trăng thơ Lý Bạch
Và trăng Hàn thi sĩ đam mê
Nhưng anh yêu cả thiên hà nữa đấy
Vũ điệu trăng sao chẳng muốn về…
Nếu em là “Mảnh trăng vùi cát bụi”
Anh vớt đặt lên thảm cỏ thanh thiên
Em sẽ là bức chân dung anh vẽ
Hiện diện trên đời có “Mảnh – trăng - em”.
Trăng 19
Tặng L.T.H
Trăng vừa mười chín tha hương
Lang thang cát bụi
Dặm trường gió mưa
Mưa vào hoa cỏ mởn mơ
Mưa ra bãi cát
Xác xơ có gì?
Mây thiên di
Gió thiên di
Em theo đi mãi
Biết khi nào về
Mưa dầm gió bấc tái tê
Lạnh lùng một mảng trăng thề đơn côi
Thị trường nghiệt ngã em ơi
Đừng cho nước chảy bèo trôi xuôi dòng
Một thuyền, một bến, một sông
Dù cho sóng cả bão giông ngại gì
Mặc cho mây gió thiên di
Trăng xanh đừng để nhỡ thì kiêu sa
Sợ rằng giây phút thăng hoa
Vầng trăng mười chín vỡ ra nỗi buồn.










Ý kiến bạn đọc