Ơn đời, ơn người
HGĐT- Hôm nay là một ngày thoải mái và thư thái. Ngày này tôi được rời phòng xét nghiệm, rời văn phòng và rời cả những mẫu máu mà lúc nào tôi cũng nâng niu nữa.
Quê nhà hiện ra ngày càng gần, những mảnh ruộng, mảnh nương, con sông cứ nhỏ dần khi lên ngược. Lần này tôi được trở về chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình để thực hiện chiến dịch tình nguyện hiến máu trong dịp hè.
Dòng Lô mùa này nước đầy. Càng theo quốc lộ lên ngược nó càng thu hẹp lại và dốc hơn. Có chỗ dù là mùa hè trẻ con vẫn có thể lội qua. Như ngay chỗ xóm tôi, dù mùa nào bọn trẻ con cũng có thể lùa trâu qua sông để sang làng bên kia được. Con sông là điểm mốc để chúng tôi đo rất nhiều thứ. Một thôi sức trẻ con là có thể đi từ sông về đến nhà tôi. Phía bên này sông là làng Tày của tôi. Làng nhiều ngôi nhà sàn to và chắc chắn nhất vùng. Người Tày sống bên này sông, có nhiều ruộng nước và còn có thể lên thị xã bán rau. Chỉ có hai nhà người Tày là ở bên kia sông, gần với người Dao. Hai nhà ấy nghèo nhất nên phải tìm thêm nương phía bên kia để làm. Thế rồi dần dần chuyển hẳn nhà sang bên ấy. Con cái hai nhà ấy cũng làm nương theo bố mẹ chứ không làm ruộng nước như bên làng Tày.
Chúng tôi dùng hết thôi sức đầu tiên thì có thể lùa trâu qua sông. Sang được bờ bên kia phải đi thêm vài thôi sức nữa mới có chỗ thả trâu một cách thoải mái. Đám trẻ không sợ xa, đi xa những đám nương để tha hồ thả trâu mà không phải canh. Lũ trâu được lùa lên rừng, chúng tôi tha hồ chơi, rồi chặt củi, hái rau rừng.
Điều làm lũ trẻ sợ nhất là chăn trâu gần nương của người Dao. Lỡ ham chơi trâu lần đến nương ăn mà bị họ bắt được thì về nhà bị ăn đòn tơi bời vì tự bọn trẻ không thể nào xin lại trâu được. Người Dao làm nương vất vả hơn chúng tôi làm ruộng nên họ quý lúa, quý rau lắm. Trâu ăn mất một vạt là mất đi mấy bữa cơm nên họ canh nương rất kỹ. Con trâu bị bắt quả tang ăn lúa nương thì chủ trâu phải nhờ trưởng làng người Tày mang rượu, mang thuốc lào lên tận nhà người Dao để xin. Họ không chấp nhận trả trâu khi chỉ có trẻ con hay chủ trâu đến xin. Phải làm thế để bọn trẻ con sợ mà canh trâu, không vì mải chơi mà để trâu đi ăn lung tung được. Trâu nhà đứa nào bị bắt thì đến cả tuần sau không ngồi mà ăn cơm được vì cái mông sưng đỏ. Như thế là làm mất mặt bố mẹ, mất mặt trưởng làng thì bị ăn đòn cho nhớ đời.
Mùa này hoa cải bắtđầu vào hạt. Cải vàng miên man tràn khắp núi này sang núi khác. Rất lạ kỳ là người Tày chúng tôi không trồng nhiều cải như người Dao. Những nương cải của người Dao luôn ẩn trong tâm trí tôi màu vàng khó phai. Ngay từ bé đứa nào cũng công nhận nương cải vàng hơn ruộng cải. Mỗi chiều thả trâu đứa nào cũng ngắm màu vàng loang từ đất trải đến tận trời. Mùa này người Dao đã đốt cỏ những nương trên cao để tra ngô. Khói cỏ mang theo mùi thơm tràn xuống những nương cải thấp. Màu trắng quyện với màu vàng quấn lấy những đứa trẻ mải nô đùa ở những nương thấp. Bọn trẻ người Dao thì chăn bò, chúng tôi chăn trâu. Ngày ấy bò của chúng ăn trên lưng chừng núi. Trâu chỉ ăn ở chân núi và bìa rừng. Chúng tôi chê chúng nó dốt không mang bò xuống dưới thấp mà chăn cho có nhiều cỏ, chăn trên cao toàn đá thì lấy đâu ra cỏ cho bò chóng no. Nhưng không bao giờ hai bên trẻ con xáp lại gần nhau để trò chuyện cả, dù chúng tôi cũng biết tiếng Dao và chắc chắn chúng cũng biết tiếng Tày.
Màu cải vàng đã làm tôi quên trâu. Nó đã lên cao đến nương cải ở lưng chừng núi. Những người phụ nữ Dao đang phát cỏ nương trên đỉnh núi. Thằng Phủ phát hiện ra trâu của tôi khi nó đã ở giữa nương cải. Cả núi rộn lên khi nó kêu: “Tải! Trâu kìa! Trâu kìa!...”. Người Dao đã nhìn thấy con trâu. Tôi hộc tốc chạy lên lôi nó xuống trước khi họ chạy xuống bắt trâu. Nếu thoát được ra khỏi nương cải thì họ sẽ không có quyền bắt trâu nữa. Sức mạnh sợ bị ăn đòn đã thổi tung tôi ngược theo triền núi để lên chỗ trâu. Tôi đang chạy thi với họ. Và tôi biết chắc chắn họ chạy nhanh hơn vì họ xuôi dốc còn tôi ngược dốc. Nhưng bù lại, quãng đường của tôi ngắn hơn. Không chỉ mình tôi mà tất cả bọn trẻ đều chạy theo để hỗ trợ tôi. Luồng gió vù vù bên tai vì đám trẻ dốc hết tốc lực để chạy. Nhưng hình như bị luồng gió trên cao dồn xuống bởi sức chạy của người trên đỉnh núi xuống. Tôi trượt chân. Thân tôi lăn như chú lợn con xuống núi. May mà tôi lăn ngang, nếu lăn dọc chắc đẩy cả bọn thằng Phủ, thằng Dí xuống theo. Trong lúc lăn tôi còn kịp nghĩ: “Thế là thua rồi, trâu bị họ bắt được rồi. Tôi sẽ bị ăn đòn”. Khi ý nghĩ ấy kết thúc tôi chạm chân ruộng thấp nhất. Những mỏm đá, cành cây, cả nương cải nữa đã làm nệm đỡ cho tôi lăn. Kỳ lạ, tôi thấy rõ mình không bị gãy tay hay gãy chân. Đầu cũng không sao cả. Nhưng tôi rất đau. Đau tận trong ruột gan. Tôi không đứng được dậy. Bọn thằng Phủ đã không lên kéo trâu nữa, chúng chạy theo đường lăn của tôi để mong đuổi kịp mà giữ tôi lại. Chúng tưởng tôi đùa khi không thấy tôi chảy máu hay gãy chân, tay mà vẫn nằm yên. Chúng giục tôi dậy để còn về nhà chịu đòn. Nhưng tôi không thể đứng dậy, bên trong tôi đau lắm, nước mắt chảy ra mà không kêu được. Mãi rồi chúng mới tin là tôi đau thật và định khiêng tôi dậy để về. Nhưng chúng động vào là tôi gào lên vì đau. Tiếng kêu to đến nỗi những người phụ nữ Dao cảm nhận được nỗi đau trong tôi. Họ buông trâu chạy xuống.
Nước mắt dàn dụa và tiếng kêu của tôi đã làm cho những người nhiều kinh nghiệm và nhiều bài thuốc biết ngay là tôi đau ở bên trong chứ không phải bên ngoài. Một chiếc cáng bằng dây rừng được họ bện rất nhanh để khiêng tôi. Nằm trên cáng và kêu rất to nhưng tôi vẫn sợ khi họ khiêng tôi về nhà và nói rằng trâu đã bị bắt thì tôi sẽ bị ăn đòn nhiều hơn. Ôi trời ơi! Nếu khiêng đến sông mà họ thả cho tôi trôi luôn đi thì tốt. Đau thì đau, tôi vẫn rất sợ ăn đòn thêm thì không biết có chịu đựng được không. Nhưng tôi vẫn không dám nói ra ý muốn thả trôi sông. Tôi vẫn rất muốn sống, muốn đi chăn trâu và muốn chơi.
Họ không khiêng tôi về nhà mà khiêng ra luôn trạm xá. Thằng Phủ được một người bảo về báo cho bố mẹ tôi biết. Thế là tôi lại càng sợ. Kể cả ra trạm xá, bố tôi mà đến đấy, nhìn thấy tôi, thấy mấy người Dao thì ông hiểu ngay chuyện gì, kiểu gì tôi cũng ăn đòn. Bố tôi chả nể nang ai bao giờ, tức lên là ông đánh anh em tôi hết chỗ để vụt thì thôi.
Cuối cùng thì nỗi sợ hãi của tôi đã không thành hiện thực. Tôi phải theo xe y tế về tận bệnh viện tỉnh vì bị dập nội tạng. Bố theo tôi. Lần đầu tiên tôi thấy bố khóc. Nước mắt thấm vào tóc, ngấm vào da đầu tôi âm ấm. Lúc ấy tôi mới hiểu tình yêu bố dành cho mình.
Khi đến bệnh viện thì tôi đã không biết gì nữa. Ánh đèn phòng mổ làm tôi ngủ một giấc đến khi tỉnh dậy thấy mọi thứ trắng toát và một vệt đỏ đỏ dài lòng thòng. Hình như tôi đang ở thiên đường, cái sợi đỏ kia là con đường từ trần gian lên thiêng đường. Ôi, thế thì hay quá! Tôi sẽ không bị bố đánh nữa, không sợ người Dao bắt mất trâu nữa.
“Tải! Tải ơi! Con tỉnh đi! Mẹ đây mà!” – Ô, mẹ gọi tôi. Thế ra tôi vẫn ở trần gian à? Tôi bị bố đánh đến ngất như thằng Dí à? Sợi dây đỏ đỏ làm mắt tôi định hình hẳn và mở ra được. À, mẹ đây rồi! Mẹ vẫn là nhất!
Tôi tỉnh hơn, rồi tỉnh dần. Nhưng cái dây đỏ đỏ ám ảnh tôi quá. Tôi không muốn nhìn nó vì thấy sợ sợ. Mẹ bảo đó là dây truyền. Tôi phải truyền máu vì tôi bị dập lá gan, dập phổi nên phải phẫu thuật. Bây giờ phải nằm truyền máu thì mới hồi phục được.
Lúc nãy tôi thấy bố, sao giờ lại là mẹ nhỉ? – “Mẹ! Bố con đâu?”
Bố con đang nằm nghỉ ở phòng đằng kia. Bố phải lấy máu để truyền cho con đấy!
Thế thì khổ cho bố quá! Thế là bố không đánh mà còn cho tôi máu. Nhưng máu bố cho cũng không đủ. Từ khi tôi lăn chạm bờ nương cuối cùng thì máu đã chảy trong tôi rồi. Từ đó đến khi mổ xong mất rất nhiều máu. Nhưng không đủ thì làm sao đây? Bố mẹ phải mua máu. Máu đắt lắm làm sao nhà tôi đủ tiền mua. Từ giờ đến mai mà không có máu truyền tiếp thì tôi không thể qua được. Bệnh viện đã hết nhóm máu của tôi. Mẹ bảo, các bác sỹ đang liên hệ với Hội Chữ thập đỏ để xin máu cho tôi. Nhưng rồi bên ấy cũng hết nhóm máu của tôi. Bố mẹ tôi khóc lên khóc xuống. Nước mắt bố chảy nhiều hơn lúc theo xe đưa tôi xuống viện. Hôm nay trông bố gầy đến hàng chục cân và xanh như tàu lá cải non, thế mà vẫn chạy chỗ nọ chỗ kia để tìm máu cho tôi. Mẹ thì đã hết cả sinh khí vì mệt. Niềm vui của mẹ, đứa con trai duy nhất của mẹ đang bị treo trên sợi dây màu đỏ kia. Mẹ nói, giá như mẹ có thể cho tôi máu thì có thể rút hết máu để đổ sang tôi.
Cả nhà tôi đang trong cơn tuyệt vọng thì người phụ nữ Dao đã bện cáng đưa tôi đến trạm xá xuất hiện. Cô Pháy đã lo lắng mà bắt xe từ bản Dao lưng chừng núi bên kia sông xuống xem tôi thế nào. Sợi dây truyền đong đưa trước mắt cô làm chóng mặt, nhưng cô cũng biết ngay là tôi đang thiếu máu truyền. Các bác sỹ đã thuyết phục cô thử máu. Và tôi đúng là chả ra sao, lại nhận máu của cô. Người cô gầy gò xanh xao quá, lại đi một chặng đường dài đến đây nên chỉ lấy được một phần máu nhỏ nhất. Như thế cũng chưa đủ cho tôi. Cả nhà tôi lại rơi vào cơn tuyệt vọng một lần nữa. Các bác sỹ cũng lo lắng không kém. Nếu không có thêm máu thì công sức mấy ngày nay và sinh mệnh tôi sẽ bị thần chết đem đi. Vậy thì công cốc sức của bao nhiêu người sao.
Một người nữa xuất hiện. Một bác mặc chiếc áo có hình dấu cộng màu đỏ ở ngực. Bác tự đến thử máu để cho tôi máu. Bác Chiêm – Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ. Người cuối cùng có nhóm máu phù hợp với tôi cho tới thời điểm này. Hai ngày qua bác đi công tác, khi về được biết có người cần máu cùng nhóm với bác nên đã tự nguyện đến cho.
Tôi nghĩ mình có ba ân nhân: Bố tôi, cô Pháy và bác Chiêm. Bố bảo bố không phải là ân nhân. Bố đẻ ra tôi thì phải có trách nhiệm mà hơn hết là tình yêu dành cho tôi nên máu của bố và của tôi là một. Vậy thì tôi có hai ân nhân. Cô Pháy và bác Chiêm. Bố đã đem lễ đến nhà hai người phụ nữ để tôi được nhận hai người là mẹ nuôi. Từ đó trở đi, lễ tết nào hai bố con cũng đến để tạ ơn.
Cuộc đời tôi theo một hướng tốt đẹp từ đó đến giờ. Mẹ Chiêm nói: “Trong cái rủi có cái may. Nếu không bị tai nạn thì mẹ con mình không gặp nhau và ngành y chúng ta không có một bác sỹ huyết học tốt như con”.
Tôi biết cuộc sống của mình đã sang trang từ đó. Tôi nguyện trả ơn cho đời những giọt máu đào. Để những giọt máu nhỏ bé có thể cứu sống nhiều sinh mệnh hơn.
Giờ đây tôi đã là Trưởng khoa Huyết học của bệnh viện đã cứu sống tôi ngày xưa. Nhưng vẫn chưa đủ, ơn đời, ơn người không bao giờ tôi trả hết. Chính vì thế mà hôm nay tôi trở lại nơi đã lấy đi và trả lại tôi những giọt máu để làm công tác tình nguyện hiến máu nhân đạo.
Để trả ơn cho đời, tôi đã mở rộng thêm được quyền lợi cho người hiến máu. Ngoài được bồi dưỡng để bồi bổ sức khoẻ, mỗi lần hiến máu sẽ được cấp giấy chứng nhận. Nếu người hiến máu gặp rủi ro cần đến máu sẽ được miễn phí số lượng máu bằng số máu đã hiến. Đó là quyền lợi thiết thực nhất cho người hiến máu. Nhưng nếu mở rộng quyền lợi cho người hiến máu có thể chuyển số máu đã hiến sang cho người thân trong trường hợp người thân gặp rủi ro thì chắc chắn sẽ được nhiều người ủng hộ hơn.
Hôm nay nắng đẹp, trời trong, hoa cải vẫn vàng từ ruộng người Tày lên nương người Dao. Từ ngày tôi bị tai nạn đến giờ trâu không bị bắt nếu lỡ vào nương của người Dao nữa. Người Dao đã hạ sơn xuống sống gần người Tày nên đã thành một bản đẹp khi có hai bản sắc hoà cùng nhau.










Ý kiến bạn đọc