Gần Dân để tạo đồng thuận
Ở vùng cao, một câu nói bằng tiếng mẹ đẻ đôi khi có sức nặng hơn cả một bài tuyên truyền dài. Khi cán bộ biết tiếng dân tộc, hiểu phong tục, tập quán và cách nghĩ của đồng bào, khoảng cách giữa cán bộ với người dân được thu hẹp. Từ đó, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến gần hơn với cuộc sống; những tâm tư, nguyện vọng của người dân cũng được lắng nghe, chia sẻ và giải quyết kịp thời từ cơ sở.
![]() |
| Cán bộ Công an xã Nghĩa Thuận tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật bằng tiếng dân tộc, giúp người dân dễ hiểu, dễ tiếp thu. |
Học tiếng nói của đồng bào
“Vằn nạy họp bản mì lăng xằng chắc bấu nọ, mì lăng le nêu cằm khửn nờ” - Hôm nay họp thôn mình còn có gì chưa hiểu không ạ, có gì thì phát biểu ý kiến nhé - Nhiều năm gắn bó với địa bàn xã biên giới Bản Máy, kết thúc cuộc họp, chị Nguyễn Thị Nguyệt, cán bộ Ban Xây dựng Đảng, xã Bản Máy hỏi bà con ngồi dưới hội trường. Những cái gật đầu đồng tình khiến chị thở phào. Ở địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, không phải lúc nào những nội dung tuyên truyền bằng tiếng phổ thông cũng dễ dàng đến được với người dân. Bởi vậy, khi có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ quen thuộc của bà con, cán bộ không chỉ truyền đạt được nội dung công việc mà còn có điều kiện lắng nghe, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn phát sinh từ cơ sở.
Chị Nguyệt chia sẻ: “Việc học tiếng dân tộc thiểu số giúp chúng tôi giao tiếp được với người dân bằng chính ngôn ngữ của họ. Qua giao tiếp, chúng tôi hiểu rõ hơn phong tục, tập quán của bà con để có phương pháp tuyên truyền, vận động phù hợp. Khi người dân thấy cán bộ biết tiếng của mình, hiểu cách sống, cách nghĩ của mình thì việc trao đổi cũng cởi mở, gần gũi hơn”.
Cũng như chị Nguyệt, nhiều cán bộ ở cơ sở nhờ thông thạo tiếng dân tộc thiểu số mà được bà con yêu quý, tin tưởng, tuyên truyền “lọt tai” lắm!
Không chỉ thuận lợi trong công tác dân vận, việc biết tiếng dân tộc còn giúp cán bộ có thêm “chìa khóa” để hiểu địa bàn. Từ những cuộc trò chuyện bên hiên nhà, trên nương, tại các buổi họp thôn, cán bộ có thể kịp thời phát hiện những vấn đề người dân đang quan tâm, những khó khăn trong sản xuất, đời sống; từ đó tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương những giải pháp sát thực tế hơn.
Anh Thèn Văn Sơn, thôn Nhìu Sang, xã Bản Máy chia sẻ: “Bà con chúng tôi nhiều khi muốn nói những điều mình suy nghĩ nhưng còn ngại vì không biết diễn đạt bằng tiếng phổ thông thế nào cho đầy đủ. Khi cán bộ biết tiếng dân tộc, chúng tôi cảm thấy gần gũi, dễ nói chuyện hơn. Những vấn đề trong sản xuất, đời sống hay những điều chưa hiểu về chủ trương, chính sách cũng có thể trao đổi thẳng thắn. Cán bộ hiểu mình thì mình cũng tin tưởng và phối hợp tốt hơn”.
Gắn đào tạo với thực tế địa phương
Tuyên Quang hiện có 73,5% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc thù đó đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ cơ sở không chỉ am hiểu địa bàn, gần gũi với Nhân dân mà còn phải có phương pháp tuyên truyền, vận động phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa và phong tục của từng cộng đồng dân cư. Bởi muốn nghị quyết đi vào cuộc sống, trước hết phải giúp người dân hiểu đúng, hiểu rõ những nội dung cốt lõi, thấy được lợi ích thiết thực và chủ động tham gia thực hiện. Trong đó, khả năng sử dụng tiếng dân tộc chính là một trong những cầu nối quan trọng để cán bộ gần dân, hiểu dân, tạo sự đồng thuận ngay từ cơ sở.
Nhận thức rõ điều đó, tỉnh quan tâm mở các lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những người thường xuyên làm công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Gần đây, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang và UBND 12 xã biên giới cử 100 cán bộ quản lý, giáo viên là người dân tộc Mông hoặc biết tiếng Mông tham gia đào tạo, cấp chứng chỉ dạy tiếng Mông. Đây là hoạt động thiết thực nhằm nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ dân tộc, đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ tăng cường trao đổi, tương tác trực tiếp với người dân bằng ngôn ngữ quen thuộc trong đời sống hằng ngày.
Thời gian tới, tỉnh tiếp tục rà soát nhu cầu từng địa bàn để tổ chức các lớp đào tạo phù hợp, chú trọng kỹ năng giao tiếp và thực hành tại cơ sở. Qua đó, giúp cán bộ không chỉ biết tiếng dân tộc mà còn hiểu sâu hơn về văn hóa, phong tục, tập quán, tâm tư và nguyện vọng của đồng bào. Khi những chủ trương, chính sách được giải thích bằng ngôn ngữ gần gũi, gắn với những vấn đề người dân quan tâm và điều kiện thực tế của địa phương, công tác tuyên truyền sẽ thuận lợi hơn, góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và khuyến khích người dân tích cực tham gia thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Từ những lời nói bằng tiếng mẹ đẻ đến những việc làm cụ thể, sự gần gũi ấy đang trở thành cầu nối đưa chủ trương, chính sách đến gần hơn với cuộc sống. Trên mỗi bản làng vùng cao, khi cán bộ thực sự hiểu dân, dân tin cán bộ, nghị quyết sẽ không chỉ dừng lại trên văn bản mà từng bước chuyển hóa thành hành động, thành những đổi thay thiết thực trong đời sống. Đó cũng là nền tảng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, góp phần giữ gìn bình yên nơi biên cương và thúc đẩy các địa phương phát triển bền vững.
Bài, ảnh: Nguyễn Yếm










Ý kiến bạn đọc