Kiến tạo không gian phát triển cho tuổi già

07:55, 03/10/2026

Việt Nam đang trải qua giai đoạn già hóa dân số nhanh chóng. Đã đến lúc xã hội cần thay đổi góc nhìn: người cao tuổi không nên chỉ được xem là đối tượng thụ động cần “bảo trợ”, mà phải được nhìn nhận như một nguồn lực dồi dào kinh nghiệm và tri thức. Xung quanh vấn đề này, Báo Tuyên Quang cuối tuần có cuộc trò chuyện cùng GS.TS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội - Đại học Kinh tế Quốc dân.

Phóng viên: Thưa GS.TS Nguyễn Đình Cử, khi nói đến chuyển đổi dân số Việt Nam người ta thường nhấn mạnh xu hướng già hóa dân số nhanh. Xin ông cho biết đôi nét về xu hướng này?

 

GS.TS Nguyễn Đình Cử.

GS.TS Nguyễn Đình Cử: Suốt 50 năm cuối của thế kỷ XX (1950 - 2000), tỷ lệ người cao tuổi (NCT) trên thế giới chỉ tăng thêm 1,2% nhưng theo dự báo, 50 năm đầu của thế kỷ XXI (2000 - 2050), tỷ lệ NCT thêm tăng 12%, nghĩa là tăng gấp 10 lần! Quá trình “bùng nổ NCT” của thế giới có thể coi là hiện tượng xã hội đặc sắc nhất trong thế kỷ này.

Việt Nam không nằm ngoài xu hướng già hóa dân số chung, hơn nữa do mức sinh giảm sâu và tuổi thọ tăng cao nên Việt Nam thuộc nhóm nước có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Năm 2012, Việt Nam có 10,2% tổng dân số là NCT, chính thức bước vào quá trình già hóa dân số. Dự báo, năm 2034, tỷ lệ này đạt 20%, trở thành nước có dân số già. Như vậy, từ khi bước vào quá trình già hóa đến khi đạt ngưỡng “dân số già” Việt Nam chỉ mất 22 năm (2012 - 2034). Trong khi đó, Pháp mất 115 năm, Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Mỹ 69 năm... Cũng theo dự báo, năm 2036, số NCT lên tới hơn 22 triệu, nhiều hơn số trẻ em dưới 15 tuổi (gần 20 triệu). Đây là đặc điểm rất cần chú ý trong nhận thức và trong mọi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội.

Phóng viên: Với một tốc độ già hóa nhanh như vậy, đặc điểm của nhóm dân số cao tuổi hiện nay ở nước ta có gì đáng lưu ý, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Đình Cử: Thế hệ NCT hiện nay sinh ra và lớn lên khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, đất nước lại trong tình trạng chiến tranh. Do đó, khi bước vào tuổi già, phần lớn sức khỏe của họ không được tốt và học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa cao. Mặc dù tuổi thọ trung bình của nước ta khá cao, đạt 74,7 tuổi, nhưng số năm sống có bệnh tật trung bình của phụ nữ lên tới khoảng 11 năm và ở nam giới khoảng 8 năm. Bên cạnh đó, tỷ lệ khuyết tật ở NCT là đáng kể và tăng theo độ tuổi. Có tới 28% những người từ 60 - 69 tuổi và hơn 50% những người từ 80 tuổi trở lên gặp ít nhất một khó khăn trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

Về kinh tế, tỷ lệ NCT có lương hưu rất thấp, chỉ khoảng 15%. Còn một tỷ lệ cũng không cao NCT hằng tháng được hưởng trợ cấp cao tuổi, trợ cấp người có công,… và số tiền trợ cấp cũng không nhiều. Điều này đặt ra thách thức đối với an ninh thu nhập của họ.

Những thay đổi mạnh mẽ bối cảnh sinh ra và lớn lên giữa thế hệ cao tuổi và thế hệ trẻ (chiến tranh và hòa bình; kinh tế bao cấp nghèo khó và kinh tế thị trường, khá giả; đóng cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng; kỹ thuật thủ công và cách mạng 4.0…) dẫn tới sự khác biệt sâu sắc giữa hai thế hệ. Nếu không lắng nghe, không thấu hiểu, không chia sẻ có thể dẫn tới mâu thuẫn, xung đột.

Tặng quà cho NCT có hoàn cảnh khó khăn nhân Tháng Hành động vì người cao tuổi Việt Nam năm 2026.
Ảnh: Lê Hảo
Tặng quà cho NCT có hoàn cảnh khó khăn nhân Tháng Hành động vì người cao tuổi Việt Nam năm 2026. Ảnh: Lê Hảo

Phóng viên: Trong bối cảnh tỷ lệ NCT có thu nhập thường xuyên không cao, khả năng tham gia vào thị trường lao động và tạo ra thu nhập của NCT thì sao thưa ông? Điều này liên quan thế nào đến việc thay đổi tư duy từ “bảo trợ” sang “kiến tạo không gian phát triển”?

GS.TS Nguyễn Đình Cử: Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Theo thống kê năm 2019, cả nước có 39% NCT đang làm việc. Tuy nhiên, do sức khỏe kém, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật không cao nên chất lượng việc làm và thu nhập của họ đều thấp. Gần 90% tổng số lao động cao tuổi đang làm việc trong khu vực phi chính thức và gần 70% làm việc trong ngành nông - lâm - thủy sản, vốn là những khu vực có năng suất thấp và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.

Nếu sức khỏe giảm sút và không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, NCT sẽ không thể hoạt động kinh tế. Khi đó, xã hội vừa mất đi một lao động, vừa phải đảm bảo an sinh xã hội cho họ. Ngược lại, nếu chất lượng dân số cao, người cao tuổi sẽ không còn là gánh nặng phụ thuộc. Họ hoàn toàn có khả năng sản xuất, kinh doanh đến độ tuổi 65 - 75. Điều này tạo ra một “lợi ích kép”: Nhà nước không phải chi phí xã hội cho NCT, mà bằng lao động của mình, NCT còn tạo ra sản phẩm cho gia đình và xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, thay vì chỉ coi NCT là đối tượng để bảo trợ xã hội, chúng ta phải chuyển hướng sang kiến tạo môi trường, không gian để họ tiếp tục làm việc và cống hiến.

Phóng viên: Vậy để biến “gánh nặng” thành “lợi ích kép”, hệ thống giải pháp chúng ta cần thực hiện là gì thưa ông?

GS.TS Nguyễn Đình Cử: Nâng cao chất lượng dân số NCT thể hiện cốt lõi ở việc thực hiện “già hóa khỏe mạnh” và năng động. Quá trình này đòi hỏi sự chung tay của nhiều thế hệ và nhiều thành phần trong xã hội:

GS.TS Nguyễn Đình Cử phát biểu tại các hội thảo về công tác dân số của Việt Nam.
GS.TS Nguyễn Đình Cử phát biểu tại các hội thảo về công tác dân số của Việt Nam.

Thứ nhất đối với thế hệ trẻ: Cần thực hiện phương châm “lo cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ”. Thanh niên cần có lối sống lành mạnh để bớt bệnh tật khi cao tuổi, tích cực học tập, làm việc và đóng bảo hiểm xã hội để xây dựng nguồn lực an sinh cho tuổi già.

Thứ hai đối với bản thân NCT: Cần chủ động bảo đảm tài chính đủ để chi trả cho hàng hóa và dịch vụ phục vụ đời sống. NCT cũng cần nêu cao tinh thần “tự phục vụ”, hợp tác đón nhận hỗ trợ và tiếp tục hoạt động đóng góp cho gia đình, cộng đồng.

Thứ ba đối với gia đình: Gia đình giữ vai trò chủ yếu trong việc chăm sóc và đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho NCT.

Thứ tư đối với cộng đồng: Cần cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thích hợp với NCT. Đặc biệt, cần tạo việc làm, sử dụng lao động cao tuổi và hỗ trợ nguồn lực cho việc chăm sóc NCT.

Thứ năm đối với Nhà nước: Cần tạo dựng khung luật pháp và chính sách khuyến khích, tạo điều kiện sử dụng lao động cao tuổi còn khả năng và có nhu cầu làm việc, thông qua: Lập danh sách công việc ưu tiên cho NCT; hỗ trợ kinh phí đào tạo lại để chuyển nghề; cung cấp thông tin thị trường lao động; miễn/giảm các loại thuế đối với cơ sở đào tạo nghề cho NCT và cơ sở sử dụng lao động cao tuổi; mở rộng quyền tiếp cận vốn vay ngân hàng.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn GS.TS Nguyễn Đình Cử!.

Lê Duy
(Thực hiện)


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Tuyên Quang có 2 cá nhân đoạt giải thưởng Nguyễn Chí Thanh
Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN) Việt Nam vừa công bố danh sách trao Giải thưởng Nguyễn Chí Thanh năm 2026, trong đó tỉnh Tuyên Quang có 2 cá nhân tiêu biểu xuất sắc là chị Đặng Thị Hương và anh Sùng Mạnh Hùng.
02/10/2026
Trao tặng trên 400 triệu đồng hỗ trợ Trường PTDT bán trú Tiểu học và THCS Sơn Vĩ
Chiều 2-10, qua sự kết nối của Hạt Kiểm lâm khu vực XVI, đoàn thiện nguyện Hải Phòng đã tổ chức chương trình trao tặng học bổng, quà và hỗ trợ bữa ăn cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Sơn Vĩ.
02/10/2026
Tùng Vài nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính
Lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tùng Vài đã tập trung chuẩn hóa quy trình, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, qua đó giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, minh bạch, tạo thuận lợi cho người dân và tổ chức.
02/10/2026
Học tập suốt đời
Phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở Tuyên Quang đã có chuyển biến sâu sắc, lan tỏa từ đô thị đến thôn, bản vùng sâu, vùng xa. Mạng lưới khuyến học hiện phủ kín 124/124 xã, phường với gần 582.000 hội viên, chiếm 31,2% dân số toàn tỉnh. Với sự chủ động, tận tụy của tổ chức Hội Khuyến học tỉnh cùng sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đã phát huy truyền thống hiếu học của đồng bào các dân tộc, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương.
02/10/2026