Sóng số về bản: Mở cánh cửa bình đẳng cho phụ nữ vùng cao
Giữa đại ngàn đá xám cực Bắc, những người phụ nữ dân tộc thiểu số cả đời “lưng chạm gùi, tay chạm cuốc” bởi rào cản ngôn ngữ và hủ tục. Thế nhưng, một cuộc cách mạng thầm lặng từ lớp học xóa mù chữ đến hành trình “xóa mù số” 4.0 đang mở ra cánh cửa bình đẳng cho những phụ nữ vùng cao. Bằng tri thức và công nghệ, chị em đang tự tay mở cánh cửa bước ra thế giới, hiện thực hóa khát vọng đổi đời và khẳng định vị thế trong kỷ nguyên mới.
Báo Tuyên Quang trân trọng giới thiệu loạt 3 bài: Sóng số về bản: Mở cánh cửa bình đẳng cho phụ nữ vùng cao.
Bài 2: Gieo con chữ, mở đường số
Bài 1: Lời ru buồn trên đá
Tại các bản làng vùng cao Tuyên Quang, có những người phụ nữ gần như cả đời chưa một lần bước chân ra khỏi cổng bản. Quyền bình đẳng giới mờ nhạt, rào cản ngôn ngữ khiến họ mặc nhiên trở thành những “cái bóng” bên bếp lửa, phó mặc đời mình cho sự định đoạt của đàn ông và những hủ tục khắc nghiệt kéo dài qua nhiều thế hệ.
Phận đời “3 không”
Tháng Ba, vùng cao Tuyên Quang vẫn chìm trong màn sương đặc quánh, tôi cùng các đồng nghiệp lại có dịp về thăm bản Lùng Vái, xã Mèo Vạc. Ngay khúc cua đầu bản, chúng tôi gặp bà Vàng Thị Sung, thôn Lùng Vái đang gùi bó củi to quá nửa người, bước chân liêu xiêu trên những mỏm đá tai mèo sắc lẹm. Ở tuổi 50, khuôn mặt bà khắc khổ như người đã ngoài 70.
![]() |
| Cán bộ xã Quản Bạ hướng dẫn người dân điểm chỉ vào các văn bản giấy tờ thay chữ ký. |
Để trò chuyện được với bà, tôi phải nhờ đến cán bộ phụ nữ xã phiên dịch. Cuộc đời bà Sung là chuỗi dài bi kịch bắt nguồn từ cái “3 không”: Không biết tiếng phổ thông, không biết viết và không quyền lựa chọn. “12 tuổi cha mẹ bảo lấy chồng thì đi thôi, không dám hỏi. Về nhà chồng, chỉ biết lên nương rồi đẻ con. Đẻ 5 đứa con đều chết khi mới 1 - 2 tuổi. Chồng lấy thêm vợ nữa về ở cùng, con cô ấy cũng chết. Giờ ông ấy mất rồi, hai người đàn bà góa tựa vào nhau mà sống qua ngày...” - bà Sung kể, nước mắt lăn dài trên gò má sạm đen.
Rời thôn Lùng Vái khi đã ngả chiều, chúng tôi men theo con đường dốc đá dựng đứng, trơn trượt chỉ vừa đủ một người đi bộ để đến nhà của em Vừ Thị Cáy, thôn Phố Mì, xã Mèo Vạc. Xung quanh vài nóc nhà thưa thớt nằm chênh vênh giữa lưng núi, căn nhà tạm bợ của gia đình được ghép lại bằng những tấm gỗ, nan tre mỏng manh.
Vừa đặt chân đến nơi, hơi lạnh thốc vào mặt, mùi khói bếp ngai ngái từ trong nhà bay ra. Cáy xuất hiện ở cửa, dáng người nhỏ thó, ánh mắt lộ rõ sự ngại ngùng khi gặp người lạ. Trong căn nhà tềnh toàng, không có thứ gì giá trị, mấy đứa nhỏ quây quanh bếp, đứa bé nhất được mẹ địu trên lưng. Bữa cơm chiều của lũ trẻ chỉ có cơm trắng chan nước sôi cho dễ nuốt.
Qua lời cán bộ phụ nữ xã phiên dịch, Cáy không được bố mẹ cho đi học từ nhỏ vì đông con, nhà nghèo, phận là con gái. Theo phong tục, Cáy lấy chồng năm 16 tuổi, giờ đã là mẹ của 4 đứa con. Vì không biết chữ, Cáy chẳng biết chồng đi làm thuê ở đâu, làm việc gì. Em không biết chăn nuôi, chẳng rành trồng trọt, cứ thế thu mình trong sự mặc cảm như cây lau, cây sậy giữa rừng.
Đi sâu vào bản, chúng tôi gặp thêm nhiều phận đời buồn tủi của phụ nữ vùng cao. Chị Vàng Thị Mẩy, Chi Hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Phố Mì bộc bạch: Chi hội phụ nữ thôn Phố Mì có 60 hội viên là đồng bào dân tộc Mông. Thế nhưng, tỷ lệ mù chữ chiếm đến 66%. Sống giữa những hủ tục kéo dài qua nhiều thế hệ, đa số phụ nữ kết hôn, sinh con sớm, thiếu kỹ năng chăm sóc gia đình, thiếu cơ hội tiếp xúc xã hội.
Bức tường “thông dịch”
Đến Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Phố Bảng, chúng tôi gặp chị Vừ Thị Dua, thôn Phố Bảng 1 cùng chồng đến làm thủ tục đăng ký hồ sơ đất đai. Dù có sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ Trung tâm, song để hiểu được các câu chữ trong văn bản, chồng chị phải đọc to, giải thích và chỉ dẫn từng chi tiết. Chị chỉ biết đứng khép nép bên cạnh, nhìn chồng ký từng trang giấy, thỉnh thoảng gật đầu, tay điểm chỉ theo hướng dẫn. “Nếu không có chồng, tôi chẳng thể tự làm gì cả”, chị Dua chia sẻ.
Vợ chồng em Giàng Mí Chứ và Vừ Thị Mai, thôn Ma Phó Tủng vừa đón thêm thành viên thứ 3 của gia đình tại Trạm Y tế xã Phố Bảng. Em Giàng Mí Chứ kể: “Sau ca sinh, mọi việc chăm sóc mẹ và em bé đều dựa vào người thân trong nhà. Tuy nhiên, mẹ em không biết chữ, cũng không nói được tiếng phổ thông nên không thể làm bất kỳ giấy tờ gì cho con, cháu”.
Mang những băn khoăn trên, tôi thắc mắc với chị Nguyễn Thị Bích Hạnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Phố Bảng. Chị Hạnh không phủ nhận tình trạng nhiều chị em không được đến trường, để rồi cuộc sống suốt ngày “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Cái nghèo và lạc hậu cứ quấn chặt cuộc sống người phụ nữ như màn sương giăng mắc trên miền non cao.
Hiện nay, Hội phụ nữ xã Phố Bảng có tổng số 3.793 hội viên, sinh hoạt tại 37 chi hội, đồng bào dân tộc Mông chiếm 80%. Trong đó, có khoảng 30% hội viên không biết tiếng phổ thông. Ngoài rào cản ngôn ngữ, phụ nữ còn đối mặt với nhiều khó khăn chồng chất. Một trong những yếu tố quan trọng là tư tưởng, suy nghĩ của nhiều chị em vẫn bị ràng buộc bởi lối sống cũ, khó thoát khỏi những hủ tục, lệ làng và sự gia trưởng của nam giới.
Với khoảng cách địa lý, định kiến giới và điều kiện kinh tế khiến phụ nữ, trẻ em gái ở nhiều vùng dân tộc thiểu số là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất, dễ bị tổn thương nhất. Họ yếu thế trước bức tường “thông dịch” do nam giới nắm giữ trong hầu hết các vấn đề của gia đình và cộng đồng, từ việc sinh con, cưới xin, tang ma.
“Khoảng tối” pháp lý
Do hạn chế trong nhận thức và tiếp cận thông tin, ở một số bản làng vùng sâu, vùng xa, biên giới của tỉnh, tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết vẫn còn diễn ra rải rác. Những vi phạm pháp luật âm thầm này để lại nhiều hệ lụy đối với phụ nữ và trẻ em.
Đơn cử như trường hợp của em Hùng Thị Mây, dân tộc Pà Thẻn, xã Tân Trịnh. Vừa học hết lớp 9, em đã lấy chồng. Do chưa đủ 18 tuổi theo quy định, em không được làm thủ tục đăng ký kết hôn, nhưng hai bên gia đình vẫn nhận lễ, để em về làm dâu nhà chồng theo phong tục. Gánh nặng và những va chạm tuổi mới lớn khiến em vỡ mộng, nhiều lần rơi vào bế tắc. Có những buổi đứng nhìn các bạn cùng trang lứa đến trường, Mây chỉ ước giá như mình có thể quay lại lớp học, tiếp tục con đường dang dở.
Nỗi xót xa càng trở nên ám ảnh khi nhắc đến P.T.D, thôn Khuổi Xỏm, xã Thượng Sơn. Năm 2018, vì mâu thuẫn với gia đình chồng và không biết tìm đến ai để chia sẻ, em đã chọn cách đau lòng, uống thuốc trừ sâu tự tử. Khi ra đi, D. mới 17 tuổi, cái tuổi còn quá non nớt. Em để lại đứa con nhỏ mới 2 tháng tuổi, bơ vơ giữa núi rừng, như một nỗi day dứt về bi kịch của những cuộc hôn nhân đến quá sớm.
Theo đồng chí Phàn Thị Phương, Phó Chủ tịch HĐND xã Thượng Sơn, những năm gần đây, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, việc làm bấp bênh, nhiều phụ nữ trong xã đi lao động ngoài tỉnh. Ban đầu, họ chỉ mong tìm được nguồn thu nhập để trang trải cuộc sống, nuôi con ăn học.
Áp lực mưu sinh nơi đất khách, cộng với khoảng cách địa lý và những rạn nứt âm ỉ trong gia đình, đã khiến không ít trường hợp rơi vào cảnh ly thân, ly hôn, hoặc bỏ đi biệt tích, không liên lạc với người thân. Hệ lụy nhìn thấy rõ nhất là con trẻ bơ vơ, thiếu vòng tay chăm sóc của cả cha lẫn mẹ. Nhiều cháu phải gửi ông bà già yếu trông nom, bữa đói bữa no, có trường hợp rơi vào nguy cơ bỏ học, bị ảnh hưởng tâm lý hoặc sa vào tệ nạn.
Những phận đời phụ nữ không chỉ phản ánh sự thiếu hiểu biết pháp luật, mà còn phơi bày khoảng trống lớn trong hỗ trợ tâm lý, kỹ năng sống và bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ vùng cao. Đó là những “khoảng tối” cần được lấp đầy bằng tri thức, sự thấu hiểu và bàn tay nâng đỡ của cộng đồng.
(Còn nữa)
Thực hiện: Trần Liên, Lý Thu, Mộc Lan, Trần Kế











Ý kiến bạn đọc