Đưa nghị quyết đại hội XIV của đảng vào cuộc sốngKhoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực trung tâm của phát triển

12:00, 06/02/2026

Bước vào thế kỷ XXI, khi tri thức, công nghệ và dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược quan trọng nhất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lĩnh vực hỗ trợ, mà đã trở thành động lực trung tâm, quyết định năng lực phát triển nhanh, bền vững và tự chủ của mỗi quốc gia.

Nhận thức sâu sắc xu thế đó, Đại hội XIV của Đảng đã xác định "Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia: Động lực trung tâm của phát triển" là một trong 8 nội dung quan trọng, xuyên suốt khi triển khai các quyết sách chiến lược.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc. Ảnh: Lê Hạnh

Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với phát triển

Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với đặc trưng nổi bật là sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ sinh học, vật liệu mới… đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội. Sự cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, quân sự truyền thống, mà ngày càng gay gắt trên mặt trận khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ lõi.

Đối với Việt Nam, sau gần bốn thập kỷ đổi mới, nền kinh tế đã đạt quy mô khá lớn, song chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản phẩm vẫn còn hạn chế. Nguy cơ tụt hậu xa hơn, rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" là thách thức hiện hữu nếu không tạo được đột phá mới về động lực phát triển. Trong bối cảnh đó, việc xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển không chỉ là định hướng chiến lược đúng đắn, mà còn là yêu cầu sống còn đối với tương lai của đất nước.

Thực tế đã chứng minh, khoa học - công nghệ là nền tảng của sức mạnh phát triển hiện đại. Khoa học - công nghệ là nền tảng tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, phương thức sản xuất mới. Trong nền kinh tế hiện đại, đóng góp của khoa học, công nghệ vào tăng trưởng ngày càng lớn, trở thành nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đối với Việt Nam, phát triển khoa học, công nghệ không chỉ nhằm nâng cao trình độ sản xuất, mà còn là con đường quan trọng để rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, khoa học, công nghệ của nước ta chưa thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; kết quả nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn còn hạn chế; liên kết giữa nghiên cứu - đào tạo - sản xuất - kinh doanh chưa chặt chẽ. Do đó, đặt khoa học, công nghệ vào vị trí động lực trung tâm đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển khoa học, công nghệ: Từ chỗ chủ yếu phục vụ nghiên cứu sang phục vụ trực tiếp phát triển; từ phân tán sang tập trung vào những lĩnh vực then chốt; từ dàn trải sang ưu tiên công nghệ nền tảng, công nghệ lõi có khả năng lan tỏa cao.

Trong khi đó, đổi mới sáng tạo chính là chìa khóa nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Nếu khoa học - công nghệ là nền tảng, thì đổi mới sáng tạo chính là động lực chuyển hóa tri thức thành giá trị phát triển. Đổi mới sáng tạo không chỉ là phát minh công nghệ, mà bao gồm cả đổi mới mô hình kinh doanh, phương thức quản trị, tổ chức sản xuất và cung ứng dịch vụ.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt, lợi thế về tài nguyên và lao động giá rẻ ngày càng thu hẹp; đổi mới sáng tạo trở thành con đường ngắn nhất để nâng cao năng suất lao động, nâng cao giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với Việt Nam, phát triển đổi mới sáng tạo là giải pháp then chốt để chuyển từ nền kinh tế gia công, lắp ráp sang nền kinh tế sáng tạo, làm chủ công nghệ và thương hiệu.

Đặt đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm đòi hỏi phải hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu - trường đại học là nòng cốt tri thức, và thị trường là nơi kiểm nghiệm giá trị của sáng tạo. Cơ chế, chính sách phải thực sự khuyến khích sáng tạo, chấp nhận rủi ro hợp lý, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tôn vinh những giá trị sáng tạo chân chính.

Chuyển đổi số là động lực lan tỏa và đột phá phát triển. Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện phương thức hoạt động, quản trị và phát triển dựa trên công nghệ số và dữ liệu số. Khác với việc ứng dụng công nghệ thông tin đơn thuần, chuyển đổi số tạo ra sự thay đổi về chất trong mô hình phát triển, cách thức tổ chức xã hội và phương thức tương tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Đối với Việt Nam, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng, mà là cơ hội lớn để rút ngắn thời gian phát triển, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ nhân dân. Chuyển đổi số giúp tăng tính minh bạch, giảm chi phí giao dịch, mở rộng không gian phát triển cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ công và cơ hội phát triển một cách công bằng hơn. Đặt chuyển đổi số vào vị trí động lực trung tâm đòi hỏi phải triển khai đồng bộ trên ba trụ cột: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trong đó, chính phủ số giữ vai trò dẫn dắt, tạo môi trường và niềm tin; kinh tế số là động lực tăng trưởng trực tiếp; xã hội số bảo đảm tính bao trùm và bền vững của quá trình phát triển.

Những yêu cầu đặt ra đối với thể chế và nguồn lực

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ biện chứng, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Khoa học, công nghệ tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo chuyển hóa tri thức thành giá trị; chuyển đổi số tạo môi trường và không gian để các giá trị đó lan tỏa nhanh chóng và sâu rộng trong toàn xã hội. Việc xác lập bốn yếu tố này là động lực trung tâm của phát triển thể hiện tư duy phát triển hiện đại, toàn diện và dài hạn, phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực trung tâm, cần có đột phá về thể chế, nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện. Thể chế phải thông thoáng, minh bạch, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới; nguồn lực phải được ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành phải chặt chẽ, hiệu quả.

Đặc biệt, phải coi nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt. Phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số suy cho cùng là phát triển con người; không có đội ngũ nhân lực đủ trình độ, bản lĩnh và khát vọng sáng tạo thì mọi chiến lược đều khó thành công.

Giống như các quyết sách chiến lược khác (Hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Lấy thực thi làm thước đo; Xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; Văn hóa và con người: Nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển của đất nước; Quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia; Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”; Xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển; Đại đoàn kết toàn dân tộc: Nền tảng sức mạnh quốc gia), việc triển khai Quyết sách "Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực trung tâm của phát triển" phải lấy hiệu quả thực tiễn, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo. Tránh tình trạng hình thức, chạy theo phong trào, khẩu hiệu; kiên quyết khắc phục tư duy nhiệm kỳ, đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả.

"Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực trung tâm của phát triển" là sự lựa chọn chiến lược đúng đắn, thể hiện tầm nhìn dài hạn và khát vọng phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới. Triển khai thành công quyết sách này sẽ tạo ra đột phá về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, cải thiện đời sống nhân dân và củng cố nền tảng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và hội nhập sâu rộng trong những thập kỷ tới.

Theo Báo Hà Nội Mới


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Phát huy vai trò báo chí trong truyền thông về hoạt động sở hữu trí tuệ
Trong bối cảnh hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ tiếp tục được hoàn thiện, yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra ngày càng cao, sáng 5-2, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức Tọa đàm “Công tác thông tin, truyền thông về hoạt động sở hữu trí tuệ". Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Lưu Hoàng Long chủ trì tọa đàm.
06/02/2026
Hàng nghìn trẻ hào hứng trải nghiệm công nghệ tại Công viên Thống Nhất
Ngày hội “Trải nghiệm STEM - Robotics - AI” đã thu hút đông đảo học sinh, phụ huynh và người dân tham gia.
06/02/2026
Nền kinh tế sáng tạo của Việt Nam đạt 95 tỷ USD vào năm 2030
Ngày 5-2, TikTok công bố báo cáo dự đoán đóng góp thương mại của các nhà sáng tạo nội dung tại Việt Nam sẽ đạt 95 tỷ USD vào năm 2030, tăng 1,46 lần so với năm 2025.
06/02/2026
Nâng tầm đội ngũ cán bộ cơ sở trong kỷ nguyên số
Nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Trung tâm Chính trị xã Đức Cơ, tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thuộc khối Đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và khối chính quyền địa phương.
05/02/2026