Nghị quyết 57: Khi nguồn lực phải chuyển hóa thành kết quả

10:30, 11/08/2026

Sau 20 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được tăng cường, trong đó ngân sách năm 2026 đạt khoảng 95.000 tỷ đồng, tương đương 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Nhưng nguồn lực lớn chưa đồng nghĩa với hiệu quả cao, Bộ Khoa học và Công nghệ nhìn nhận, điểm nghẽn hiện nay chủ yếu nằm ở tổ chức thực hiện, từ tâm lý e ngại, sợ sai đến chất lượng chuẩn bị nhiệm vụ và khả năng hấp thụ nguồn lực ở một số nơi.

Lãnh đạo Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ tìm hiểu các sản phẩm, giải pháp công nghệ của Tập đoàn CMC. Ảnh: PV

Nguồn lực đã tăng, điểm nghẽn nằm ở đâu?

Một trong những chuyển biến đáng chú ý sau 20 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW là nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được cụ thể hóa ở quy mô lớn.

Theo số liệu của Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Khoa học và Công nghệ), ngân sách dành cho các lĩnh vực này trong năm 2026 đạt khoảng 95.000 tỷ đồng, tương đương 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Con số này cho thấy quyết tâm chính trị đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được cụ thể hóa bằng nguồn lực thực tế.

Nhưng nguồn lực được bố trí và cơ chế được hoàn thiện chưa đồng nghĩa với hiệu quả thực tế.

Sản phẩm trưng bày tại Không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành Đại học Bách Khoa Hà Nội. Ảnh: PV

Qua theo dõi quá trình xây dựng kế hoạch và giải ngân, Vụ Kế hoạch - Tài chính chỉ ra ba vấn đề nổi lên trong tổ chức thực hiện.

Trước hết là tâm lý e ngại, sợ sai, né tránh trách nhiệm ở một số nơi. Khi người có thẩm quyền còn chờ hướng dẫn, chờ ý kiến hoặc không dám quyết, tiến độ phê duyệt nhiệm vụ, phân bổ kinh phí và tổ chức thực hiện đều bị kéo chậm.

Điểm nghẽn thứ hai là chất lượng chuẩn bị nhiệm vụ chưa đồng đều. Một số đề xuất chưa làm rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, hiệu quả kinh tế - xã hội và nhu cầu kinh phí, dẫn đến phải chỉnh sửa nhiều lần trong quá trình thẩm định, ảnh hưởng đến tiến độ giao dự toán và giải ngân.

Thứ ba là năng lực tổ chức thực hiện ở một số bộ, ngành, địa phương chưa theo kịp yêu cầu của các chương trình khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quy mô lớn. Vì vậy, có nơi được giao nguồn lực nhưng khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế.

Ba điểm nghẽn này cho thấy bài toán hiện nay không đơn thuần là tiếp tục bổ sung nguồn lực. Vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để nguồn lực được chuyển thành nhiệm vụ có chất lượng, được triển khai đúng tiến độ và cuối cùng tạo ra kết quả.

Không để giải ngân trở thành đích đến

Nhận diện những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 29/CT-TTg về đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026.

Điểm cốt lõi của Chỉ thị, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, không phải bổ sung thêm cơ chế mà là siết chặt kỷ luật thực thi. Chỉ thị yêu cầu rà soát toàn bộ danh mục nhiệm vụ, đẩy nhanh phân bổ và giải ngân, xử lý dứt điểm các nhiệm vụ chậm triển khai; đồng thời gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

Từ đây, cách nhìn về nguồn lực cũng phải thay đổi. Nguồn lực được bố trí mới chỉ là điều kiện cần. Giá trị của nguồn lực phải được thể hiện ở nhiệm vụ được triển khai, sản phẩm được tạo ra và tác động đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Sản phẩm trưng bày tại Không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành Đại học Bách Khoa Hà Nội. Ảnh: PV

Vì vậy, từ nay đến cuối năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định tập trung vào ba nhóm giải pháp: Tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn để tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện; đổi mới đề xuất dự toán ngân sách theo kết quả đầu ra và hiệu quả sử dụng vốn thay vì dàn trải; tăng cường theo dõi, đánh giá tiến độ để kịp thời điều chuyển nguồn lực từ những nhiệm vụ triển khai chậm sang những nhiệm vụ có khả năng thực hiện tốt hơn.

Đáng chú ý, Bộ cũng xác định sẽ tập trung nguồn lực vào các chương trình, dự án trọng điểm có khả năng tạo tác động lan tỏa lớn, trong đó có công nghệ chiến lược, phòng thí nghiệm trọng điểm, hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, nền tảng số dùng chung và các sản phẩm phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp.

Quan điểm được đặt ra là không dàn trải nguồn lực, mà lựa chọn những nhiệm vụ thực sự cấp thiết, có sản phẩm đầu ra rõ ràng và có khả năng tạo động lực tăng trưởng.

Chuyển từ “đúng quy trình” sang chịu trách nhiệm về kết quả

Nếu bài toán của giai đoạn trước là tạo dựng cơ chế và nguồn lực, thì bài toán của giai đoạn hiện nay là năng lực thực thi.

Đây không chỉ là câu chuyện của một quy trình hành chính. Với những chương trình khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có quy mô lớn, liên quan đến nhiều cơ quan và nhiều khâu, năng lực tổ chức thực hiện sẽ quyết định nguồn lực có được chuyển hóa thành giá trị hay không.

Bởi vậy, việc tăng cường theo dõi tiến độ, rà soát danh mục nhiệm vụ và điều chuyển nguồn lực từ những nhiệm vụ chậm sang những nhiệm vụ có khả năng thực hiện tốt hơn không đơn thuần nhằm thúc đẩy giải ngân. Quan trọng hơn là tạo áp lực để từng nhiệm vụ chứng minh được khả năng thực hiện và hiệu quả của nguồn lực được giao.

Sản phẩm trưng bày tại Không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành Đại học Bách Khoa Hà Nội. Ảnh: PV

Theo Vụ Kế hoạch - Tài chính, thước đo của Nghị quyết số 57 không phải là đã bố trí bao nhiêu kinh phí, mà là bao nhiêu công nghệ mới được tạo ra, bao nhiêu doanh nghiệp được hỗ trợ đổi mới sáng tạo, bao nhiêu nền tảng số được đưa vào vận hành và những kết quả đó đóng góp như thế nào cho tăng trưởng kinh tế. Muốn đạt được điều đó, cần chuyển từ tư duy “đúng quy trình” sang tư duy “chịu trách nhiệm về kết quả”, đồng thời khắc phục tâm lý e ngại, né tránh trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.

Đây chính là phép thử mới đối với việc thực hiện Nghị quyết 57.

Bởi nếu nguồn lực lớn nhưng nhiệm vụ vẫn chậm, khả năng hấp thụ vốn hạn chế hoặc sản phẩm đầu ra chưa rõ, thì nguồn lực chưa thực sự phát huy giá trị. Ngược lại, khi nguồn lực được tập trung vào những nhiệm vụ có mục tiêu và sản phẩm rõ ràng, được theo dõi tiến độ và gắn với trách nhiệm cụ thể, khả năng chuyển hóa đầu tư thành kết quả sẽ rõ hơn.

Từ nay đến cuối năm 2026, trọng tâm của Bộ Khoa học và Công nghệ vì thế không chỉ là tiếp tục hoàn thiện chính sách, mà là tổ chức thực hiện hiệu quả những chính sách đã có; tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng điểm và đưa các cơ chế của Nghị quyết 57 vào thực tiễn.

Nói cho cùng, nguồn lực chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, nền tảng và những kết quả cụ thể phục vụ người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế. Đó cũng là yêu cầu lớn nhất khi Nghị quyết 57 bước sang giai đoạn của hành động.

Theo Báo Hà Nội Mới Xem link nguồn

Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Dữ liệu địa điểm - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Trong mọi nền kinh tế số, dữ liệu địa điểm là lớp dữ liệu nền tảng giúp kết nối con người, doanh nghiệp, công trình, đất đai, tài sản và các hoạt động kinh tế với không gian số. Đây là lớp dữ liệu tạo điều kiện để liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm khả năng định vị, xác thực và chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, lĩnh vực.
11/08/2026
Hàn Quốc thử nghiệm robot hỗ trợ đỗ xe tại khu dân cư
Hàn Quốc đang tiến thêm một bước trong việc ứng dụng công nghệ tự động hóa vào đời sống đô thị khi Hyundai Wia, công ty sản xuất linh kiện ô tô và máy móc thuộc Hyundai Motor, bắt đầu thử nghiệm robot hỗ trợ đỗ xe tự hành tại một khu chung cư.
11/08/2026
VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số
Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
11/08/2026
Xây dựng và phát triển các mạng lưới chuyên gia, trí thức trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Hội thảo là cơ hội để các bên cùng trao đổi, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, hướng tới mục tiêu không chỉ kết nối nguồn lực mà còn tạo ra các dự án, sản phẩm và kết quả hợp tác cụ thể phục vụ phát triển đất nước.
11/08/2026