Những “hạt giống” Sư phạm tiếng Mông đầu tiên

08:10, 09/04/2026

Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam, một mã ngành đào tạo Sư phạm tiếng Mông bậc Đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức cấp phép cho Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang tuyển sinh. Sự kiện này mở ra một trang mới, thắp lên hy vọng về một đội ngũ giáo viên am hiểu ngôn ngữ, tường tận văn hóa của đồng bào dân tộc Mông và sẵn sàng trở thành cầu nối tri thức cho bản làng vùng cao.

Sinh viên Sư phạm tiếng Mông trong một tiết học.
Sinh viên Sư phạm tiếng Mông trong một tiết học.

Mở đường tri thức về bản

Trong số hơn 3.000 sinh viên đang theo học ở Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang, lớp Sư phạm tiếng Mông luôn gợi lên một sự tò mò. Tôi gọi đây là “giảng đường đặc biệt”, nơi những thanh âm của núi rừng vùng cao được hệ thống hóa thành ngôn ngữ học thuật bài bản. Trong căn phòng ấy, sự ngăn cách giữa giảng viên và sinh viên dường như bị xóa nhòa bởi một nhịp điệu riêng, vừa quen thuộc của tiếng mẹ đẻ, vừa mới mẻ của những cấu trúc ngữ pháp, ngữ âm chuẩn hóa.

Người Mông vốn có lòng tự tôn dân tộc mãnh liệt, luôn coi ngôn ngữ và văn hóa là báu vật truyền đời. Sau những biến cố thăng trầm của lịch sử khiến chữ viết cổ xưa bị thất truyền, khát khao có được bộ chữ chính thống để ghi lại tâm hồn dân tộc luôn âm ỉ cháy trong tâm thức họ. Dù Nhà nước đã ban hành bộ chữ Mông từ năm 1961 và triển khai dạy học tại nhiều tỉnh miền núi, ban hành Chương trình tiếng Mông và các bộ sách giáo khoa cấp Tiểu học.

Nhưng thực tế vẫn tồn tại một “khoảng trống” khi thiếu đội ngũ giáo viên được đào tạo chính quy. Đa số giáo viên hiện nay chỉ dừng lại ở mức bồi dưỡng ngắn hạn, chưa đủ năng lực chuẩn hóa và lan tỏa ngôn ngữ này một cách sâu rộng trong hệ thống giáo dục hiện đại. Và tại các bản làng xa xôi, những đứa trẻ người Mông khi bước vào lớp 1 chưa tiếp cận đầy đủ tiếng phổ thông, dẫn đến tâm lý tự ti, khó tiếp thu kiến thức, nguy cơ bỏ học giữa chừng, trong khi đội ngũ giáo viên không biết nói tiếng dân tộc, khoảng cách ngôn ngữ càng khiến chất lượng giáo dục bị ảnh hưởng. Theo thống kê của ngành Giáo dục, đến năm 2030, cả nước cần hơn 9.000 giáo viên biết tiếng dân tộc thiểu số để đáp ứng chương trình Giáo dục phổ thông mới. Từ thực tiễn cấp thiết ấy, mã ngành Sư phạm tiếng Mông ra đời như một lời giải chiến lược cho bài toán nguồn nhân lực giáo dục vùng cao.

Chương trình đào tạo Sư phạm tiếng Mông bao gồm: Lý luận giáo dục, Tâm lý học giáo dục, Phương pháp giảng dạy, đọc và viết tiếng Mông, Văn hóa và Lịch sử dân tộc Mông, và các môn học chuyên ngành khác như Ngữ âm, Ngữ pháp, Từ vựng, Văn học và Tình hình phát triển của ngôn ngữ Mông.

Không chỉ được học tập trong môi trường Sư phạm chuyên nghiệp, sinh viên còn nhận được sự hỗ trợ tối đa từ Nhà nước theo Nghị định số 116, Nghị định 57 và Quyết định 66 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ học phí, chi phí sinh hoạt cho sinh viên sư phạm; sinh viên thuộc dân tộc thiểu số rất ít người và sinh viên người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và cận nghèo. Bên cạnh đó, nhà trường cũng có chính sách trợ cấp xã hội và học bổng dành cho sinh viên người dân tộc ít người và có hoàn cảnh khó khăn. Đây là “bà đỡ” vững chắc giúp những người con của bản làng yên tâm theo đuổi con chữ mà không phải lo lắng về gánh nặng kinh tế.

Tiến sĩ Lục Quang Tấn, Giám đốc Phân hiệu chia sẻ: “Việc đào tạo ngành Sư phạm tiếng Mông là bước tiến tiên phong, quan trọng, thể hiện tầm nhìn dài hạn trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống gắn liền với phát triển nguồn nhân lực địa phương”.

Sinh viên Sư phạm tiếng Mông tham gia hoạt động ngoại khóa.
Sinh viên Sư phạm tiếng Mông tham gia hoạt động ngoại khóa.

Kỳ vọng những “hạt giống” đầu tiên

Gần 100 sinh viên của hai khóa học đầu tiên tại Phân hiệu chính là những “hạt giống” quý giá. Các em đến từ nhiều vùng quê khác nhau, mang theo những sắc áo và bản sắc riêng biệt, nhưng tất cả đều chung một khát khao trở thành người gieo chữ giữa đại ngàn, lan tỏa văn hóa truyền thống dân tộc. Kỳ vọng lớn nhất đặt lên vai lứa sinh viên này chính là khả năng giảng dạy song ngữ. Khi ra trường, các em sẽ là những “đại sứ văn hóa” đầu tiên giúp trẻ em vùng cao tiếp cận tri thức bằng chính tiếng mẹ đẻ. Điều này không chỉ giúp các em nhỏ tự tin hơn trong những ngày đầu đến trường mà còn là sợi dây giữ gìn văn hóa dân tộc trong dòng chảy hội nhập. Em Giàng Thị Súa, sinh viên lớp Sư phạm tiếng Mông K2 chia sẻ: “Trước đây em chỉ nói theo thói quen, vào học mới thấy tiếng dân tộc mình giàu và đẹp vô cùng. Là khóa đầu tiên, em biết cơ hội việc làm rất lớn, nhưng mong muốn lớn nhất của em là được trở về quê hương Đồng Văn để dạy học. Em muốn các em nhỏ ở bản em vừa giỏi tiếng Việt, vừa biết yêu và tự hào về tiếng mẹ đẻ của mình”. Không chỉ bó hẹp trong không gian trường học, lứa sinh viên đầu tiên này còn mang theo kỳ vọng về một nguồn nhân lực chất lượng cao cho nhiều lĩnh vực khác. Với tấm bằng cử nhân chính quy, các em có thể tham gia vào các cơ quan truyền thông, tổ chức xã hội, làm phiên dịch viên hay hướng dẫn viên du lịch cộng đồng. Sự am hiểu sâu sắc về phong tục tập quán cộng với tư duy sư phạm bài bản cũng sẽ giúp các em trở thành những tư vấn đắc lực cho chính quyền địa phương trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, con đường của những người mở lối bao giờ cũng đầy rẫy chông gai. Thạc sĩ Cự Minh Sơn, giảng viên trực tiếp giảng dạy tại phân hiệu, trăn trở: “Chúng tôi kỳ vọng các em sẽ là những hạt nhân trong bảo tồn giá trị văn hóa. Nhưng hiện tại, khó khăn vẫn còn nhiều khi thiếu giảng viên đào tạo chính quy, giáo trình chưa đồng bộ, chúng tôi phải tự nghiên cứu, tự biên soạn dựa trên thực tiễn. Chúng tôi rất mong ngành Giáo dục đẩy nhanh việc hoàn thiện sách giáo khoa tiếng Mông các cấp học giúp sinh viên khi ra trường có ngay công cụ sắc bén để giảng dạy”.

Dù phía trước còn nhiều thử thách, nhưng các sinh viên luôn tràn đầy niềm tin và nhiệt huyết. Một ngày không xa, khi những “hạt giống” nảy mầm, trở về với bản làng, tiếng Mông lảnh lót vang lên trên những sườn núi đá, xóa đi rào cản ngôn ngữ và mở ra một tương lai tươi sáng hơn cho giáo dục vùng cao.

An Giang


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Giữ nghề nón lá hai mê ở Xuân Giang
Giữa nhịp sống hiện đại, có những giá trị văn hóa vẫn âm thầm, bền bỉ như mạch nguồn vun đắp hồn cốt dân tộc. Ở xã Xuân Giang, nghề làm nón lá hai mê qua đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Tày đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, tinh xảo, kết tinh từ sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và niềm tự hào truyền thống dân tộc, trở thành di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
28/03/2026
Về Phù Lưu nghe kể chuyện luyện ngựa đua
Những ngày đầu tháng 2 âm lịch, xã Phù Lưu rộn rã hơn thường nhật. Nài ngựa từ khắp các tỉnh phía Bắc tề tựu, vừa chuyện trò, trao đổi, vừa vuốt ve những chú ngựa chiến bóng mượt, chắc khỏe. Trong không gian nồng mùi cỏ tươi và bụi đỏ, những nài ngựa dắt ngựa bằng một tay, tay kia vỗ vỗ vào mông ngựa như một lời nhắn gửi yêu thương đến người bạn đồng hành đặc biệt.
25/03/2026
Sinh kế mới ở Cao Bồ
Tận dụng lợi thế nguồn nước lạnh và khí hậu mát mẻ, xã Cao Bồ đang từng bước phát triển nghề nuôi cá Tầm, mở ra hướng sinh kế mới, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Từ những mô hình nhỏ lẻ ban đầu, đến nay cá Tầm đang dần trở thành một trong những sản phẩm kinh tế có giá trị của địa phương, tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
24/03/2026
Những ngôi nhà cổ ở Lao Xa
Giữa điệp trùng núi đá tai mèo, thôn biên giới Lao Xa (xã Sà Phìn) hiện lên như một nốt trầm xao xuyến, bền bỉ neo giữ hồn cốt người Mông. Ở đó, mỗi nếp nhà trình tường cổ kính không chỉ là mái ấm an cư, mà còn mở lối cho du lịch phát triển và hóa thân thành những “cột mốc sống” - lặng lẽ nhưng vững vàng nơi phên giậu thiêng liêng của Tổ quốc.
21/03/2026