Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện luật về đất đai

15:09, 29/10/2026

Sáng 29-10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, dưới sự chủ trì của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Đất đai (sửa đổi).

Tháo gỡ vướng mắc đất ở, đất sản xuất chồng lấn với ranh giới rừng

Thảo luận về vấn đề còn nhiều vướng mắc từ thực tiễn các địa phương miền núi, ĐBQH Lý Thị Lan đặc biệt nhấn mạnh đến việc giải quyết đất ở, đất sản xuất nông nghiệp của người dân đang sử dụng nhưng xen kẽ, chồng lấn với ranh giới rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.

ĐBQH Lý Thị Lan phát biểu thảo luận tại hội trường.
ĐBQH Lý Thị Lan phát biểu thảo luận tại hội trường.

Theo đại biểu, tại một số địa phương miền núi, có những hộ dân đã sinh sống, sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp ổn định từ nhiều năm trước, thậm chí trước khi ranh giới rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được xác lập. Qua các thời kỳ đo đạc, giao đất, giao rừng và lập quy hoạch, một phần diện tích người dân đang sử dụng lại nằm trong ranh giới đất được giao cho các ban quản lý rừng hoặc thuộc quy hoạch lâm nghiệp.

Trong khi đó, hồ sơ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, ranh giới quản lý và hiện trạng sử dụng đất chưa được đối chiếu, xử lý thống nhất. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn trong việc xác định diện tích nào đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất, diện tích nào phải tiếp tục quản lý, bảo vệ theo pháp luật về lâm nghiệp. Tình trạng này khiến việc cấp giấy chứng nhận kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và sinh kế của người dân.

Theo đại biểu, cần phân biệt rõ trường hợp người dân sử dụng đất từ trước khi xác lập ranh giới rừng với hành vi phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật; đồng thời phân biệt sự chồng lấn do hồ sơ, bản đồ qua các thời kỳ với diện tích thực tế có rừng phải bảo vệ. Đây là những trường hợp khác nhau về bản chất và cần có căn cứ pháp lý để xử lý phù hợp.

Về quy định pháp luật hiện hành, khoản 4 Điều 54 Luật Lâm nghiệp đã quy định đối với đất ở, đất sản xuất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư xen kẽ trong rừng đặc dụng nhưng không thuộc quy hoạch rừng đặc dụng thì được tiếp tục sử dụng theo quy hoạch được phê duyệt. Khoản 5 quy định trách nhiệm của ban quản lý rừng phối hợp với chính quyền địa phương rà soát, lập kế hoạch quản lý.

Đặc biệt, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP đã có quy định về điều chỉnh ranh giới, diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, trong đó có việc giải quyết tình trạng chồng lấn, đất ở, đất sản xuất của người dân.

Như vậy, pháp luật lâm nghiệp đã có cơ chế xem xét, điều chỉnh ranh giới rừng theo thẩm quyền. Vướng mắc còn lại là sau khi xác định được nguồn gốc, hiện trạng và xử lý chồng lấn thì căn cứ nào để cơ quan quản lý đất đai công nhận quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận cho người dân? Đây là vấn đề cần được kết nối và làm rõ trong Luật Đất đai.

Đối chiếu dự thảo Luật ngày 28/10, tại khoản 7 Điều 65 đã quy định trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vào mục đích canh tác thì khi cấp Giấy chứng nhận không phải đáp ứng điều kiện phù hợp với quy hoạch tại một số khoản của Điều này.

Tuy nhiên, quy định này chưa làm rõ việc áp dụng đối với diện tích đất canh tác đang chồng lấn với ranh giới rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Nếu áp dụng thiếu thống nhất, có thể dẫn đến hai tình huống: Hoặc từ chối mọi hồ sơ của người dân vì đất nằm trong ranh giới quy hoạch rừng; hoặc vận dụng ngoại lệ về quy hoạch để công nhận quyền sử dụng đất đối với cả diện tích rừng phải bảo vệ.

Mặt khác, điểm a khoản 1 Điều 54 của dự thảo quy định việc chuyển đất lâm nghiệp sang loại đất khác phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Vì vậy, cần phân biệt trường hợp xác định lại nguồn gốc, loại đất và xử lý sai lệch ranh giới với trường hợp thực sự chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp. Không nên áp dụng một quy trình chuyển mục đích đối với mọi trường hợp chồng lấn trên hồ sơ.

Từ thực tiễn và các căn cứ nêu trên, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 65 của dự thảo Luật một nguyên tắc xử lý đối với đất ở, đất canh tác của người dân có chồng lấn giữa hồ sơ đất đai và hồ sơ quản lý rừng. Về tổ chức thực hiện, tôi đề nghị không đặt thêm một thủ tục hành chính riêng...

Bất cập trong quản lý đất dân tộc thiểu số và đất có nguồn gốc nông, lâm trường

Góp ý về quản lý đất sau khi thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, ĐBQH Hoàng Ngọc Định nêu rõ: Khoản 3 Điều 15 quy định việc chuyển nhượng, tặng cho và thừa kế quyền sử dụng đất được hỗ trợ chỉ thực hiện trong phạm vi đối tượng nhất định. Vậy cơ quan đăng ký đất đai và chính quyền cấp xã căn cứ vào đâu để xác định một thửa đất đã được hỗ trợ theo chính sách nào, diện tích bao nhiêu và hiện đang bị hạn chế quyền gì?

ĐBQH Hoàng Ngọc Định thảo luận.
ĐBQH Hoàng Ngọc Định thảo luận.

Nếu thông tin nằm rải rác trong hồ sơ các chương trình hỗ trợ, sẽ khó ngăn ngừa việc chuyển nhượng không đúng điều kiện hoặc hỗ trợ trùng lặp. Ngược lại, người mất đất do thiên tai, sạt lở hay nguyên nhân khách quan cũng cần được xác định chính xác để tiếp tục xem xét chính sách.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 15 nguyên tắc cập nhật trên hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai về nguồn gốc đất hỗ trợ, diện tích đã hưởng chính sách và hạn chế đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất; đồng thời liên thông với dữ liệu các chương trình mục tiêu quốc gia. Việc này cần thực hiện ngay khi giao đất, chứ không chờ đến khi có giao dịch hoặc khiếu nại mới xác minh.

Cũng tại khoản 3, dự thảo quy định nếu người sử dụng đất chết mà không có người thừa kế thuộc diện chính sách thì Nhà nước thu hồi đất và bồi thường tài sản gắn liền với đất. Đại biểu đề nghị làm rõ cách xử lý đối với người thừa kế hợp pháp đang sinh sống, trực tiếp sản xuất trên đất nhưng không còn thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; nghiên cứu cơ chế xem xét hoàn cảnh và quyền lợi hợp pháp về nhà ở, tài sản trước khi quyết định thu hồi. Không nên đồng nhất quan hệ thừa kế do người sử dụng đất qua đời với hành vi chuyển nhượng nhằm trục lợi chính sách.

Về đất có nguồn gốc nông, lâm trường, điểm a khoản 2 Điều 82 yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức rà soát phương án đã được phê duyệt, quyết định tiếp tục thực hiện hoặc lập phương án theo Luật mới. Trong khi đó, khoản 4 Điều 111 lại cho phép công ty nông, lâm nghiệp đã có phương án được phê duyệt nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận mà không phải rà soát hiện trạng sử dụng đất, lập phương án theo khoản 2 Điều 82.

Như vậy, hai quy định chưa thống nhất về yêu cầu rà soát trước khi cấp Giấy chứng nhận. Trên thực tế, sau khi phương án được phê duyệt có thể đã phát sinh biến động ranh giới, giao khoán, tranh chấp hoặc diện tích phải bàn giao. Nếu không kiểm tra những biến động đó, có thể xác lập quyền sử dụng đất trên phần diện tích chưa được xử lý dứt điểm.

Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 4 Điều 111 theo hướng không bắt lập lại toàn bộ phương án đã phê duyệt hợp pháp, nhưng phải kiểm tra những biến động về hiện trạng, ranh giới, tranh chấp, giao khoán và nghĩa vụ bàn giao đất trước khi cấp Giấy chứng nhận. Diện tích không biến động, không tranh chấp, đang sử dụng đúng phương án thì được thực hiện thủ tục đơn giản.

Đồng thời, tại khoản 3 Điều 82, cần xác định rõ phần diện tích bàn giao về địa phương chỉ trở thành quỹ đất bố trí cho đối tượng chính sách sau khi đã làm rõ quyền hợp pháp của người đang sử dụng và tình trạng tranh chấp. Đây là yêu cầu rất thiết thực đối với các tỉnh miền núi có nhiều đất nguồn gốc nông, lâm trường.

Về phân cấp, ủy quyền, đại biểu đồng tình với việc tăng thẩm quyền cho cấp xã. Đại biểu đề nghị bổ sung trở lại tại điểm d khoản 2 Điều 18 điều kiện về năng lực tổ chức thực hiện của cấp xã, gắn với nhân lực chuyên môn, dữ liệu địa chính và hạ tầng kỹ thuật; đồng thời quy định rõ trách nhiệm kiểm tra, hỗ trợ của cấp tỉnh. Đối với dự án liên xã hoặc có nhiều nhóm chủ thể sử dụng đất, cần xác định cơ quan chịu trách nhiệm thống nhất về quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tránh phân tán trách nhiệm pháp lý trong cùng một dự án.

Tin, ảnh: PV

 


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Khởi công xây dựng nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu
Sáng 29-10, tại khu công nghiệp Long Bình An, phường Bình Thuận, Công ty TNHH Sao Việt Tuyên Quang đã tổ chức lễ khởi công xây dựng nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu. Đến dự có các đồng chí: Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Vân Đình Thảo, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Quản lý các khu công nghiệp và khu kinh tế tỉnh; Đỗ Anh Tuấn, Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, lãnh đạo các doanh nghiệp trong tỉnh.
29/10/2026
Khởi công Dự án Bến xe khách Tuyên Quang
Sáng 29-10, Công ty cổ phần Dịch vụ vận tải hành khách Tuyên Quang tổ chức Lễ Khởi công Dự án Bến xe khách Tuyên Quang.
29/10/2026
Cụ thể hóa nghị quyết thành nhiệm vụ cụ thể, quyết liệt trong tổ chức thực hiện
Chiều 28-10, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 tổ chức hội nghị chuyên đề để cho ý kiến, thông qua một số nội dung quan trọng thuộc thẩm quyền. Đồng chí Hầu A Lềnh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.
28/10/2026
Kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh khóa XX thông qua 14 nghị quyết quan trọng
Sáng 28-10, HĐND tỉnh khóa XX tổ chức Kỳ họp thứ 6 (kỳ họp chuyên đề) xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng.
28/10/2026